← Tất cả ví dụ

Ví dụ thực tế về Thừa kế

Mỗi câu trả lời dưới đây từng được đưa ra thật, với trích dẫn chính xác đến Điều — Khoản từ văn bản gốc. Danh sách này sẽ tiếp tục được bổ sung theo thời gian.

22 ví dụ về Thừa kế · trang 1/3

91/2015/QH13Còn hiệu lực

Thời hiệu khởi kiện là bao lâu? Tranh chấp hợp đồng, bồi thường, thừa kế, lao động và khi nào hết thời hiệu vẫn kiện được

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Tôi cho người quen vay tiền bằng giấy viết tay từ năm 2021, hẹn trả năm 2022 nhưng đến nay chưa trả. Bạn tôi nói đã quá 3 năm nên không kiện được nữa, có đúng không? Thời hiệu khởi kiện các loại tranh chấp khác như thừa kế, bồi thường, lao động là bao lâu?
Bạn của bạn đúng một nửa. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm, nhưng Tòa án không tự áp dụng thời hiệu, và có nhiều tình huống thời hiệu được tính lại từ đầu. Với khoản vay của bạn, nếu người vay từng nhắn tin xin khất, trả một phần hoặc thừa nhận nợ, thời hiệu đã bắt đầu lại từ ngày đó. 1. Thời hiệu khởi kiện là gì (Điều 149, 150 Bộ luật Dân sự 2015) Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi; hết thời hạn đó thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu tính từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền của mình bị xâm phạm (Điều 154 khoản 1). Với hợp đồng vay, đó là ngày đến hạn mà bên vay không trả. 2. Thời hiệu của từng loại tranh chấp • Tranh chấp hợp đồng (vay, mua bán, thuê, dịch vụ): 3 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết quyền bị xâm phạm (Điều 429). • Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tai nạn, gây thiệt hại tài sản, sức khỏe): 3 năm (Điều 588). • Thừa kế (Điều 623): yêu cầu chia di sản 30 năm với bất động sản, 10 năm với động sản; yêu cầu xác nhận hoặc bác bỏ quyền thừa kế 10 năm; yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết 3 năm. Tất cả tính từ thời điểm mở thừa kế (ngày người để lại di sản chết). Hết thời hiệu chia di sản, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý. • Tranh chấp thương mại giữa các thương nhân: 2 năm kể từ thời điểm quyền bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005). • Tranh chấp lao động cá nhân (Điều 190 Bộ luật Lao động 2019): yêu cầu hòa giải viên 6 tháng, yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động 9 tháng, yêu cầu Tòa án 1 năm, đều tính từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. 3. Những tranh chấp không áp dụng thời hiệu (Điều 155) • Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản. • Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, ví dụ đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình. • Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai. • Trường hợp khác do luật quy định. Nghĩa là tranh chấp ai là chủ đất, đòi lại đất bị chiếm, đòi lại tài sản gửi giữ không bị giới hạn bởi thời hiệu. Ngược lại, đòi tiền theo hợp đồng thì có thời hiệu 3 năm. 4. Hết thời hiệu vẫn có thể thắng kiện: Tòa chỉ áp dụng khi có yêu cầu (Điều 149 khoản 2; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu, và yêu cầu đó phải đưa ra trước khi Tòa cấp sơ thẩm ra bản án. Hết thời hiệu không phải căn cứ để Tòa trả lại đơn khởi kiện; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự liệt kê các căn cứ trả đơn và không có trường hợp này. Vì vậy bạn vẫn nộp đơn được. Nếu bị đơn không biết hoặc không yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa vẫn xét xử nội dung. Người được hưởng lợi từ thời hiệu cũng có quyền từ chối áp dụng, trừ khi nhằm trốn tránh nghĩa vụ. 5. Thời hiệu bắt đầu lại từ đầu khi nào (Điều 157) Thời hiệu tính lại từ ngày tiếp theo khi: • Bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với người khởi kiện. • Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ, ví dụ trả một phần nợ hoặc trả lãi. • Các bên đã tự hòa giải với nhau. Đây là điểm quyết định trong vụ của bạn. Tin nhắn "cho anh khất thêm vài tháng", một lần chuyển khoản trả bớt, hay một biên bản làm việc có chữ ký đều là căn cứ bắt đầu lại thời hiệu 3 năm. Hãy thu thập các bằng chứng này trước khi nộp đơn. 6. Thời gian không tính vào thời hiệu (Điều 156) Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến bạn không thể khởi kiện; thời gian người có quyền là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện. Trong lĩnh vực lao động, Điều 190 khoản 4 Bộ luật Lao động cũng loại trừ thời gian có bất khả kháng, trở ngại khách quan. 7. Việc bạn nên làm ngay • Xác định ngày đến hạn trả nợ trên giấy vay và mọi lần người vay thừa nhận nợ hoặc trả một phần sau đó. • Gửi văn bản đòi nợ có xác nhận nhận (bưu điện, tin nhắn có phản hồi). Phản hồi thừa nhận nợ của họ sẽ làm thời hiệu bắt đầu lại. • Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, kèm giấy vay, bằng chứng chuyển tiền và các tin nhắn. Nếu bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, bạn dùng Điều 157 để phản bác. • Nếu người vay có dấu hiệu bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt, cân nhắc tố giác hình sự; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là chế định riêng của Bộ luật Hình sự, không phải thời hiệu dân sự.Nguồn: Điều 149, 150, 154, 155, 156, 157, 429, 588, 623, Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 184, 192, Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13; Điều 319, Luật Thương mại 36/2005/QH11; Điều 190, Bộ luật Lao động 45/2019/QH14
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Di chúc thế nào là hợp pháp? Viết tay, đánh máy, di chúc miệng có giá trị không?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Tôi muốn lập di chúc để lại tài sản. Di chúc cần điều kiện gì để hợp pháp? Di chúc viết tay không công chứng có giá trị không, di chúc đánh máy thì sao, và di chúc miệng khi nào được công nhận?
Một di chúc hợp pháp phải đáp ứng điều kiện về người lập (minh mẫn, tự nguyện), nội dung (không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức) và hình thức. Di chúc viết tay không công chứng VẪN có thể hợp pháp nếu đủ điều kiện; di chúc đánh máy phải có người làm chứng; di chúc miệng chỉ dùng trong tình huống nguy cấp. Căn cứ là Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13. 1) ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC HỢP PHÁP Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13: "Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật." Một số trường hợp đặc biệt (các khoản khác Điều 630): di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi phải lập thành văn bản và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 2) HÌNH THỨC DI CHÚC Điều 627 Bộ luật Dân sự: "Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng." Như vậy văn bản là hình thức chính; di chúc miệng chỉ là ngoại lệ. 3) DI CHÚC VIẾT TAY (KHÔNG CÓ NGƯỜI LÀM CHỨNG) Điều 633 Bộ luật Dân sự: "Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc." Di chúc tự viết tay, tự ký, dù KHÔNG công chứng, KHÔNG người làm chứng, vẫn hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 630 (khoản 4 Điều 630: "Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này"). Lời khuyên thực tế: nên công chứng/chứng thực để giảm rủi ro tranh chấp về tính xác thực. 4) DI CHÚC ĐÁNH MÁY HOẶC NHỜ NGƯỜI KHÁC VIẾT Điều 634 Bộ luật Dân sự: nếu người lập KHÔNG tự viết mà đánh máy hoặc nhờ người khác viết/đánh máy thì "phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc." Vậy di chúc đánh máy KHÔNG có người làm chứng thì không hợp lệ về hình thức. 5) DI CHÚC MIỆNG Điều 629 Bộ luật Dân sự: chỉ được lập di chúc miệng khi "tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản". Và khoản 5 Điều 630 quy định điều kiện để di chúc miệng hợp pháp: người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất HAI người làm chứng, ngay sau đó người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; trong thời hạn 05 ngày làm việc, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký/điểm chỉ của người làm chứng. Ngoài ra (Điều 629 khoản 2): sau 03 tháng kể từ khi di chúc miệng mà người lập còn sống, minh mẫn thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. 6) AI KHÔNG ĐƯỢC LÀM CHỨNG Người thừa kế theo di chúc/theo pháp luật của người lập, người có quyền/nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc, và người chưa thành niên/mất năng lực hành vi... không được làm người làm chứng cho di chúc (Điều 632). Nên chọn người làm chứng độc lập. BẠN NÊN LÀM GÌ 1) Xác định rõ tài sản để lại và người được hưởng; viết nội dung rõ ràng, không vi phạm điều cấm (ví dụ định đoạt cả phần tài sản không thuộc quyền của mình). 2) Chọn hình thức phù hợp: tự viết tay và ký (đơn giản nhất), hoặc đánh máy nhưng phải có ≥2 người làm chứng đủ điều kiện. 3) Nên CÔNG CHỨNG hoặc CHỨNG THỰC di chúc để hạn chế tranh chấp về tính hợp pháp sau này. 4) Lưu ý quy định về người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc (con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng... vẫn được hưởng tối thiểu 2/3 suất thừa kế theo pháp luật). 5) Với tài sản lớn hoặc muốn phân chia phức tạp, nên nhờ công chứng viên/luật sư soạn để di chúc chặt chẽ, đúng luật.Nguồn: Điều 627, 629, 630, 632, 633, 634 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Người mất không để lại di chúc thì tài sản chia thừa kế thế nào? (Hàng thừa kế theo pháp luật)

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Bố/mẹ tôi mất không để lại di chúc. Vậy tài sản (nhà đất, tiền...) được chia cho những ai, theo thứ tự nào? Con nuôi, con riêng, vợ/chồng có được hưởng không, và mỗi người được bao nhiêu?
Khi người mất không để lại di chúc, di sản được chia THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT - tức chia theo hàng thừa kế do luật quy định, những người cùng hàng được hưởng phần bằng nhau. Căn cứ là Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13. 1) KHI NÀO CHIA THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13: thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi "a) Không có di chúc; b) Di chúc không hợp pháp; c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;… d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." Trường hợp của bạn (không có di chúc) thuộc điểm a. Thời điểm mở thừa kế (Điều 611): là thời điểm người có tài sản chết. Từ thời điểm này, di sản được xác định và chia cho người thừa kế. 2) HÀNG THỪA KẾ - AI ĐƯỢC HƯỞNG VÀ THEO THỨ TỰ NÀO Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định: "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." Áp dụng: nếu người mất còn vợ/chồng, cha mẹ, con - tất cả những người này thuộc HÀNG THỨ NHẤT và chia đều di sản. Con nuôi (hợp pháp) và con đẻ đều thuộc hàng thứ nhất, hưởng như nhau; con riêng vẫn là con đẻ của người mất nên cũng thuộc hàng thứ nhất. Chỉ khi KHÔNG còn ai ở hàng thứ nhất thì mới đến hàng thứ hai, rồi hàng thứ ba. Ví dụ: ông A mất, còn vợ, 2 con và mẹ đẻ (4 người hàng thứ nhất). Di sản của ông A chia làm 4 phần bằng nhau. Lưu ý phải xác định phần di sản của ông A trước: nếu nhà đất là tài sản chung vợ chồng thì thường một nửa là của vợ, nửa còn lại mới là di sản của ông A để chia thừa kế. 3) MỘT LƯU Ý: NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC DI CHÚC (áp dụng khi CÓ di chúc) Để tham khảo: kể cả khi có di chúc, một số người vẫn được hưởng tối thiểu. Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, và con thành niên không có khả năng lao động "vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật", trong trường hợp họ không được di chúc cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn 2/3 suất đó. (Quy định này bảo vệ thân nhân gần gũi khỏi bị truất hoàn toàn bằng di chúc.) BẠN NÊN LÀM GÌ 1) Xác định di sản: liệt kê tài sản của người mất; nếu là tài sản chung vợ chồng thì tách phần của người mất trước khi chia thừa kế. 2) Xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (vợ/chồng, cha mẹ đẻ và nuôi, con đẻ và con nuôi). 3) Các đồng thừa kế lập VĂN BẢN THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN (hoặc văn bản khai nhận di sản nếu chỉ một người thừa kế), công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng; với nhà đất thì làm thủ tục sang tên theo phần được chia. 4) Nếu các bên không thỏa thuận được, có thể khởi kiện chia di sản thừa kế tại Tòa án. Lưu ý thời hiệu yêu cầu chia di sản (đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế). 5) Với di sản lớn hoặc quan hệ thừa kế phức tạp (nhiều đời, con nuôi, con riêng, thừa kế thế vị), nên tham vấn công chứng viên/luật sư để chia đúng và tránh tranh chấp.Nguồn: Điều 611, 644, 650, 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Bên bán nhà chết trước khi sang tên (đã nhận tiền cọc) — tiền cọc và việc mua bán xử lý thế nào?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Tôi đặt cọc mua một căn nhà, đã giao tiền cọc cho hai vợ chồng chủ nhà. Nhưng chưa kịp làm thủ tục sang tên thì hai vợ chồng họ đột ngột qua đời (bị tai nạn). Căn nhà lại đang thế chấp ngân hàng. Vậy giờ hợp đồng đặt cọc còn hiệu lực không, tôi có tiếp tục mua được không, hay đòi lại tiền cọc ở đâu?
Hợp đồng đặt cọc KHÔNG tự động chấm dứt khi bên bán qua đời — nghĩa vụ từ hợp đồng đặt cọc trở thành DI SẢN và chuyển sang cho những người thừa kế của hai vợ chồng chủ nhà. Bạn không mất trắng tiền cọc, nhưng việc giải quyết sẽ phức tạp hơn vì phải thông qua thủ tục thừa kế và xử lý khoản nợ ngân hàng đang thế chấp. Về bản chất pháp lý — nghĩa vụ hợp đồng chuyển cho người thừa kế: Điều 615 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định: "Những người hưởng thừa kế có TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN trong phạm vi di sản do người chết để lại..." Khi hai vợ chồng chủ nhà mất, toàn bộ tài sản (căn nhà) và các nghĩa vụ (bao gồm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đặt cọc đã ký với bạn, và khoản nợ ngân hàng đang thế chấp) đều trở thành DI SẢN, chuyển cho những người thừa kế của họ. Người thừa kế "kế thừa" cả quyền và nghĩa vụ liên quan đến căn nhà — trong đó có nghĩa vụ giải quyết hợp đồng đặt cọc với bạn (theo Điều 328 Bộ luật Dân sự về đặt cọc). Ba hướng giải quyết có thể xảy ra: HƯỚNG 1 — TIẾP TỤC THỰC HIỆN việc mua bán: nếu những người thừa kế đồng ý bán căn nhà cho bạn theo đúng thỏa thuận đặt cọc, họ cần: (a) hoàn tất thủ tục KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ để đứng tên căn nhà; (b) GIẢI CHẤP (trả nợ hoặc thỏa thuận với ngân hàng để giải phóng thế chấp); (c) sau đó mới làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên cho bạn. Đây là quy trình khá dài, cần sự hợp tác của tất cả đồng thừa kế và ngân hàng. HƯỚNG 2 — CHẤM DỨT giao dịch, HOÀN TRẢ tiền cọc: nếu những người thừa kế KHÔNG muốn bán (hoặc không thể thực hiện được), họ có nghĩa vụ HOÀN TRẢ tiền cọc cho bạn, và tùy trường hợp có thể phải chịu trách nhiệm theo thỏa thuận đặt cọc (ví dụ phạt cọc theo Điều 328). Tuy nhiên, LƯU Ý QUAN TRỌNG: theo Điều 615, người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ TRONG PHẠM VI DI SẢN nhận được — nghĩa là họ hoàn trả/bồi thường cho bạn trong giới hạn giá trị tài sản thừa kế, không phải bằng tài sản riêng của họ. HƯỚNG 3 — THỎA THUẬN LẠI: bên mua (bạn) và những người thừa kế có thể thương lượng điều chỉnh các điều khoản (giá, thời hạn, cách xử lý khoản nợ ngân hàng...) cho phù hợp với hoàn cảnh mới, miễn là các bên đồng thuận. Một điểm phức tạp cần lưu ý — căn nhà đang thế chấp ngân hàng: khi tài sản đang thế chấp, quyền của NGÂN HÀNG (bên nhận thế chấp) được ưu tiên. Trước khi có thể sang tên cho bạn, khoản nợ với ngân hàng phải được giải quyết (giải chấp). Nếu người thừa kế không trả được nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp (căn nhà) để thu hồi nợ — điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bạn mua được căn nhà. Vì vậy, việc làm rõ tình trạng khoản nợ ngân hàng là bước quan trọng. Bạn nên làm gì: 1) Xác định NHỮNG NGƯỜI THỪA KẾ của hai vợ chồng chủ nhà (con cái, cha mẹ của họ...) — đây là những người bạn cần làm việc để giải quyết hợp đồng đặt cọc, dù theo hướng tiếp tục mua hay đòi lại cọc. 2) Giữ đầy đủ chứng cứ về việc đặt cọc: hợp đồng/giấy đặt cọc đã ký, chứng từ giao tiền cọc — đây là căn cứ để bạn yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ (tiếp tục bán hoặc hoàn trả cọc). 3) Tìm hiểu rõ tình trạng khoản nợ ngân hàng (số nợ còn lại, điều kiện giải chấp) — vì đây là yếu tố quyết định căn nhà có thể được bán/sang tên hay sẽ bị ngân hàng xử lý. 4) Thương lượng với những người thừa kế để chọn hướng giải quyết phù hợp; nếu không thỏa thuận được (họ không hợp tác hoàn trả cọc hoặc không thực hiện tiếp giao dịch), bạn có quyền khởi kiện dân sự tại Tòa án nhân dân để yêu cầu giải quyết (đòi lại cọc, hoặc yêu cầu thực hiện hợp đồng) — lưu ý trách nhiệm của người thừa kế giới hạn trong phạm vi di sản. 5) Nên tham vấn luật sư để được hỗ trợ đánh giá cụ thể (hợp đồng đặt cọc có điều khoản gì về trường hợp bất khả kháng/một bên chết không, tình trạng thế chấp, ai là người thừa kế...) và bảo vệ quyền lợi trong tình huống khá phức tạp này.Nguồn: Điều 328, Điều 615 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; nguyên tắc thừa kế tại Điều 612, Điều 651 Bộ luật Dân sự
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Người đứng tên sử dụng đất đã chết, khi Nhà nước thu hồi đất thì tiền bồi thường ai được nhận?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Ông tôi đứng tên quyền sử dụng đất nhưng đã mất, chưa làm thủ tục thừa kế sang tên cho ai. Nay Nhà nước thu hồi mảnh đất đó để làm dự án. Vậy Nhà nước có bồi thường không, và tiền bồi thường ai được nhận khi người đứng tên đã chết?
Nhà nước VẪN bồi thường bình thường (nếu mảnh đất đủ điều kiện được bồi thường), và tiền bồi thường KHÔNG bị mất đi khi người đứng tên đã chết — mà trở thành DI SẢN THỪA KẾ, được chia cho những người thừa kế của ông bạn. Việc chưa sang tên không làm mất quyền được bồi thường; chỉ là gia đình cần làm thủ tục thừa kế để xác định ai đứng ra nhận. Về nguyên tắc: quyền sử dụng đất (và quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đủ điều kiện) là một loại TÀI SẢN. Khi người đứng tên chết, tài sản này trở thành DI SẢN. Điều 612 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác." Quyền sử dụng mảnh đất của ông bạn (hoặc phần của ông trong khối tài sản chung, nếu là tài sản chung với bà) chính là di sản để lại cho những người thừa kế. Về thời điểm và người được hưởng: Điều 614 Bộ luật Dân sự quy định "Kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại." Nghĩa là ngay từ khi ông mất, những người thừa kế của ông đã có quyền đối với di sản này — bao gồm quyền hưởng tiền bồi thường khi đất bị thu hồi. Nếu ông KHÔNG để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất theo khoản 1 điểm a Điều 651 Bộ luật Dân sự: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ, con nuôi của ông — mỗi người một phần bằng nhau (khoản 2 Điều 651). Về điều kiện được bồi thường về đất: việc mảnh đất có được bồi thường hay không phụ thuộc vào điều kiện theo Luật Đất đai 31/2024/QH15 — về nguyên tắc, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận), sử dụng ổn định, không tranh chấp thì được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi. Việc người đứng tên đã chết KHÔNG phải là lý do để từ chối bồi thường — cơ quan chức năng sẽ bồi thường và chi trả cho những người thừa kế hợp pháp (sau khi họ hoàn tất thủ tục xác định người thừa kế). Về trường hợp đặc biệt — nếu HOÀN TOÀN không có người thừa kế: Điều 622 Bộ luật Dân sự quy định trường hợp không có người thừa kế (theo di chúc lẫn theo pháp luật, hoặc có nhưng đều từ chối/không được quyền hưởng), thì tài sản còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản sẽ thuộc về Nhà nước. Đây là lý do đôi khi có cách nói "người chết không có người thừa kế thì không bồi thường (cho ai)" — thực chất không phải là không bồi thường, mà là không còn cá nhân nào đủ tư cách nhận nên phần đó xử lý theo quy định về tài sản không có người nhận thừa kế. Tuy nhiên, trường hợp của ông bạn (có con cháu) rõ ràng CÓ người thừa kế, nên không rơi vào tình huống này. Gia đình nên làm gì: 1) Xác định hàng thừa kế của ông: nếu ông không để lại di chúc, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (bà - nếu còn sống, các con của ông) là người được hưởng di sản gồm quyền sử dụng đất và tiền bồi thường. 2) Làm thủ tục KHAI NHẬN/THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ tại tổ chức công chứng — các đồng thừa kế cùng ký, thống nhất ai đại diện nhận tiền bồi thường hoặc chia theo tỷ lệ. Đây là bước cần thiết để cơ quan chi trả bồi thường có căn cứ chi trả đúng người. 3) Chuẩn bị đầy đủ giấy tờ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông, giấy chứng tử của ông, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế (giấy khai sinh của các con, giấy đăng ký kết hôn của ông bà...) — để làm thủ tục thừa kế và nhận bồi thường. 4) Liên hệ Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án và UBND cấp xã để được hướng dẫn thủ tục nhận bồi thường trong trường hợp người sử dụng đất đã chết — thông thường cơ quan sẽ yêu cầu văn bản khai nhận/phân chia di sản đã công chứng. 5) Nếu các đồng thừa kế không thống nhất được về việc chia tiền bồi thường, hoặc có tranh chấp, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực giải quyết. Nên tham vấn luật sư hoặc công chứng viên để làm thủ tục thừa kế đúng quy định, tránh chậm trễ việc nhận bồi thường.Nguồn: Điều 612, Điều 614, Điều 622, khoản 1, khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; điều kiện bồi thường về đất theo Luật Đất đai 31/2024/QH15
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Đất đứng tên hộ gia đình bà ngoại, con thứ 1 và thứ 2 chưa có tên trong sổ hộ khẩu khi cấp sổ đỏ — có được chia thừa kế không?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Bà ngoại có 3 người con: con thứ 1 sinh sống tại Mỹ, định cư năm 1993; con thứ 2 sinh sống tại Củ Chi; con thứ 3 sống tại Đồng Nai, sống chung với bà, chung hộ khẩu với bà. Đất đứng tên bà là hộ gia đình, khi cấp sổ người con thứ 1 và thứ 2 chưa từng có tên trong sổ hộ khẩu...
Đây là một câu hỏi tách thành HAI VẤN ĐỀ PHÁP LÝ RIÊNG BIỆT cần trả lời rõ ràng: (1) việc con thứ 1 và thứ 2 KHÔNG có tên trong hộ khẩu tại thời điểm cấp sổ CÓ ẢNH HƯỞNG đến quyền sở hữu một phần đất "hộ gia đình" hay không — đây là câu hỏi về QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT HIỆN TẠI; và (2) khi bà ngoại mất, TOÀN BỘ phần đất thuộc quyền của bà (dù là bao nhiêu) sẽ được THỪA KẾ như thế nào giữa 3 người con — đây là câu hỏi về THỪA KẾ, hoàn toàn không phụ thuộc vào việc ai có tên trong hộ khẩu. Về vấn đề thứ nhất — "đất hộ gia đình" và ai là đồng sở hữu: theo quy định pháp luật đất đai, "Hộ gia đình sử dụng đất" là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và CÓ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHUNG tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất — điểm mấu chốt là "đang sống chung VÀ có quyền sử dụng đất chung TẠI THỜI ĐIỂM được cấp giấy chứng nhận," không đơn thuần chỉ là có tên trong hộ khẩu. Việc con thứ 1 (định cư Mỹ từ 1993) và con thứ 2 (sống tại Củ Chi, khác nơi với bà) KHÔNG có tên trong hộ khẩu VÀ thực tế cũng KHÔNG sống chung với bà tại thời điểm cấp sổ, là dấu hiệu RẤT RÕ họ KHÔNG thuộc diện "thành viên hộ gia đình sử dụng đất" được ghi nhận trong "đất hộ gia đình" đó — về nguyên tắc, phần đất này thực chất chỉ thuộc về những người thực sự là thành viên hộ gia đình cùng đứng tên vào thời điểm cấp sổ (rất có thể chỉ có bà và con thứ 3, người sống chung, chung hộ khẩu với bà). Về vấn đề thứ hai — quyền thừa kế của cả 3 người con là NHƯ NHAU, không phụ thuộc vào hộ khẩu: đây là điểm CẦN LÀM RÕ ĐỂ TRÁNH NHẦM LẪN: khoản 1 điểm a Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định hàng thừa kế thứ nhất của một người khi mất (không có di chúc) gồm: "vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, CON ĐẺ, con nuôi của người chết" — và khoản 2 quy định "những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản BẰNG NHAU." Cả 3 người con của bà ngoại — bất kể sống ở Mỹ, Củ Chi hay Đồng Nai, bất kể có tên trong hộ khẩu của bà hay không — ĐỀU LÀ CON ĐẺ CỦA BÀ, đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất NGANG NHAU. Việc có/không có tên trong hộ khẩu KHÔNG PHẢI là căn cứ pháp lý để tước bỏ hoặc giảm bớt quyền thừa kế của bất kỳ người con nào. Về cách áp dụng kết hợp cả hai vấn đề: khi bà ngoại mất, DI SẢN THỪA KẾ của bà chỉ là PHẦN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THỰC SỰ THUỘC VỀ BÀ trong tổng diện tích đất "hộ gia đình" đó (không bao gồm phần thuộc về các thành viên khác của hộ gia đình, nếu có, ví dụ phần của con thứ 3 nếu con thứ 3 cũng là đồng chủ sử dụng đất hợp pháp) — và CHÍNH PHẦN DI SẢN NÀY (của riêng bà) mới được chia thừa kế đều cho CẢ 3 người con theo Điều 651. Nói cách khác: con thứ 1 và thứ 2 KHÔNG được coi là "đồng sở hữu đất hộ gia đình" ngay từ đầu (vì không đủ điều kiện thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp sổ), NHƯNG họ VẪN CÓ QUYỀN THỪA KẾ ngang bằng đối với phần di sản của bà ngoại để lại, cùng với con thứ 3. Một lưu ý bổ sung về con thứ 1 định cư tại Mỹ từ 1993: việc định cư ở nước ngoài KHÔNG làm mất quyền thừa kế theo pháp luật Việt Nam — người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn có quyền thừa kế, tuy nhiên về việc ĐỨNG TÊN quyền sử dụng đất tại Việt Nam có thể có những điều kiện riêng theo pháp luật đất đai (tùy vào quốc tịch hiện tại của người đó — còn quốc tịch Việt Nam hay đã nhập quốc tịch nước khác), có thể ảnh hưởng đến việc họ được đứng tên trực tiếp hay chỉ được hưởng giá trị bằng tiền — đây là điểm cần làm rõ thêm dựa trên tình trạng quốc tịch cụ thể của người con thứ 1. Gia đình nên làm gì: 1) Xác định rõ tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận, có bao nhiêu người thực sự là thành viên hộ gia đình sử dụng đất chung với bà (thường căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận gốc, biên bản kê khai lúc đó) — đây là cơ sở xác định phần di sản THỰC SỰ của riêng bà trong tổng diện tích đất. 2) Khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế (sau khi bà mất), cần có sự tham gia, đồng thuận của CẢ 3 người con — nếu con thứ 1 ở nước ngoài không thể về, có thể làm văn bản ủy quyền hợp pháp (công chứng/hợp pháp hóa lãnh sự) cho người đại diện tại Việt Nam. 3) Kiểm tra tình trạng quốc tịch hiện tại của con thứ 1 (còn quốc tịch Việt Nam hay không) để xác định phương thức hưởng thừa kế phù hợp (đứng tên trực tiếp hay nhận giá trị). 4) Nên tham vấn luật sư hoặc công chứng viên để rà soát chính xác hồ sơ đất đai gốc, xác định đúng phần di sản của bà và tỷ lệ phân chia, tránh tranh chấp phát sinh giữa các đồng thừa kế.Nguồn: Khoản 1, khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Luật Đất đai 31/2024/QH15 về hộ gia đình sử dụng đất
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Bố tặng đất các con chừa hành lang giao thông chung, thừa kế phần đất bị hành lang đó chắn lối, đổi sổ hồng không được — xử lý sao?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Nhờ luật sư tư vấn giúp em. Bố em cho đất các con, chừa hành lang giao thông. Sau khi bố mất, chồng em nhận thừa kế ô đất còn lại có diện tích hành lang giao thông chắn lối ra của các ô đất kia. Giờ đổi sổ hồng không được. Phòng đăng ký đất đai nói có 2 phương án thỏa thuận: một là những nhà kia hỗ trợ tiền cho nhà em theo giá nhà nước thu hồi làm đường, hai là nhà em đồng ý cắt đất cho với thỏa thuận nhà nước thu hồi làm đường nhà em lấy đền bù...
Đây là tình huống khá đặc trưng khi một mảnh đất lớn được chia thành nhiều ô nhỏ cho các con, và phần "hành lang giao thông" chung nằm trên ô đất mà chồng bạn được thừa kế — pháp luật dân sự đã có quy định RÕ RÀNG cho chính xác tình huống này, và điều quan trọng nhất bạn cần biết: nếu hành lang này đã được xác lập NGAY TỪ KHI bố bạn chia đất để làm lối đi chung cho các ô đất phía trong, gia đình bạn có thể KHÔNG được nhận đền bù, vì đây vốn là nghĩa vụ gắn liền với đất từ khi hình thành các thửa. Về căn cứ pháp lý cốt lõi: khoản 3 Điều 254 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định: "Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia PHẢI DÀNH LỐI ĐI CẦN THIẾT cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này MÀ KHÔNG CÓ ĐỀN BÙ." Đây là điểm mấu chốt: khi bố bạn chia mảnh đất lớn thành nhiều ô cho các con, nếu việc "chừa hành lang giao thông" chính là để tạo LỐI ĐI CHUNG cho các ô đất phía trong (không tiếp giáp đường công cộng) đi ra ngoài, thì đây là nghĩa vụ dành lối đi PHÁT SINH TỪ CHÍNH VIỆC PHÂN CHIA ĐẤT ban đầu — và theo luật, nghĩa vụ này KHÔNG ĐI KÈM ĐỀN BÙ, khác hẳn với trường hợp thông thường tại khoản 1 Điều 254 (khi hai bất động sản độc lập, không cùng nguồn gốc chia tách, thì bên hưởng lối đi phải đền bù cho bên nhường đất). Đây chính là lý do cần xem lại kỹ: hai phương án mà Phòng Đăng ký đất đai đưa ra (các nhà kia hỗ trợ tiền theo giá nhà nước thu hồi làm đường, HOẶC nhà bạn cắt đất và tự đi xin đền bù từ nhà nước sau) DƯỜNG NHƯ đang xử lý vụ việc theo hướng THÔNG THƯỜNG (như đất độc lập, có đền bù), mà CHƯA XÉT ĐẾN khả năng đây thuộc trường hợp đặc biệt tại khoản 3 Điều 254 — tức khả năng gia đình bạn phải dành lối đi này MÀ KHÔNG ĐƯỢC ĐỀN BÙ từ những người thừa kế/chủ sở hữu các ô đất phía trong, vì nghĩa vụ này đã gắn liền với đất từ khi bố bạn phân chia. Về việc xác định gia đình bạn có quyền nhận đền bù hay không: điều quyết định là XEM XÉT LẠI HỒ SƠ, GIẤY TỜ TẶNG CHO ĐẤT của bố bạn (nếu còn lưu, hoặc bản đồ địa chính, biên bản phân chia đất tại thời điểm đó) — có ghi nhận rõ mục đích của "hành lang giao thông" này là lối đi chung phục vụ các ô đất phía trong hay không, và việc phân chia đất diễn ra cùng một thời điểm/cùng một hồ sơ pháp lý hay không. Nếu đúng là như vậy, về nguyên tắc gia đình bạn không có căn cứ đòi đền bù từ CÁC HỘ ĐƯỢC HƯỞNG LỐI ĐI, nhưng vẫn có thể đủ điều kiện được BỒI THƯỜNG TỪ NHÀ NƯỚC nếu sau này Nhà nước chính thức thu hồi phần đất đó để làm đường công cộng (theo Luật Đất đai, không phải theo Điều 254 Bộ luật Dân sự) — đây là hai cơ chế khác nhau: quan hệ dân sự giữa các chủ sử dụng đất liền kề (Điều 254 BLDS) và quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (Luật Đất đai). Gia đình bạn nên làm gì: 1) Tìm lại toàn bộ hồ sơ gốc về việc bố bạn tặng cho đất các con — giấy tờ tặng cho, bản đồ trích đo/phân lô tại thời điểm chia đất, biên bản (nếu có) — để xác định rõ "hành lang giao thông" này có phải là lối đi được xác lập ngay từ khi phân chia đất hay không, đây là căn cứ quyết định quyền đền bù. 2) Nếu xác định đây đúng là lối đi bắt buộc theo khoản 3 Điều 254 (không đền bù giữa các hộ), gia đình bạn nên tập trung vào phương án 2 (đồng ý dành đất cho lối đi, chờ nhận đền bù từ Nhà nước khi thu hồi làm đường chính thức trong tương lai theo quy định về bồi thường đất đai) thay vì đòi các hộ kia hỗ trợ tiền — vì về mặt pháp lý căn cứ đòi tiền từ các hộ có thể không vững. 3) Nếu không xác định được rõ ràng nguồn gốc, hoặc các bên không thống nhất được, gia đình bạn có quyền yêu cầu UBND cấp xã tổ chức hòa giải, hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân khu vực để yêu cầu xác định rõ quyền, nghĩa vụ về lối đi qua theo khoản 2 Điều 254 ("nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án... xác định"). 4) Nên tham vấn luật sư hoặc chuyên viên địa chính có kinh nghiệm để rà soát hồ sơ đất đai cụ thể, xác định chính xác quyền lợi của gia đình trước khi lựa chọn phương án với Phòng Đăng ký đất đai, tránh chấp nhận một phương án bất lợi hơn mức pháp luật thực sự yêu cầu.Nguồn: Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 254 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Bà ngoại có 5 người con, một người mất trước — phần thừa kế có phải liên quan đến con của cậu không?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Cho em hỏi. Cha em cho đất 2 anh em mà mẹ mất trước bà ngoại. Bà ngoại có 5 người con. Một câu (người con) mất trước ngoại. Vậy cho em hỏi phân thừa kế có phải liên quan đến con của cậu không ạ?
Câu trả lời phụ thuộc vào việc AI là người mất trước bà ngoại — nếu đó là mẹ của bạn thì phần thừa kế của bà ngoại sẽ do CÁC CON CỦA BẠN (tức là bạn và anh chị em ruột) hưởng thay, còn phần của cậu (nếu cậu còn sống) hoàn toàn KHÔNG bị ảnh hưởng — hai việc này độc lập với nhau, chỉ liên quan khi chính người cậu đó cũng đã mất trước bà ngoại. Về nguyên tắc thừa kế theo pháp luật: khoản 1 điểm a Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định hàng thừa kế thứ nhất của bà ngoại gồm: vợ/chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Với bà ngoại có 5 người con, cả 5 người con này (nếu còn sống vào thời điểm bà ngoại mất) đều là người thừa kế hàng thứ nhất, được hưởng phần di sản BẰNG NHAU (khoản 2 Điều 651). Về cơ chế "thừa kế thế vị" áp dụng khi một người con mất TRƯỚC bà ngoại: Điều 652 Bộ luật Dân sự quy định: "Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống." Áp dụng vào trường hợp của bạn: nếu MẸ bạn (một trong 5 người con của bà ngoại) đã mất trước bà ngoại, thì CÁC CON của mẹ bạn (tức là bạn và các anh chị em ruột của bạn) sẽ được hưởng THẾ VỊ phần di sản mà đáng lẽ mẹ bạn được hưởng nếu còn sống — tức là các bạn cùng nhau chia phần di sản bằng đúng 1/5 tổng di sản của bà ngoại (phần lẽ ra thuộc về mẹ bạn), CHIA ĐỀU cho các anh chị em trong gia đình bạn. Về mối quan hệ với "con của cậu": đây là điểm cần làm rõ — thừa kế thế vị CHỈ áp dụng cho nhánh của người con ĐÃ MẤT TRƯỚC người để lại di sản. Nếu người cậu mà bạn nhắc đến VẪN CÒN SỐNG (không phải là người "mất trước ngoại"), thì cậu vẫn là người thừa kế trực tiếp theo Điều 651, hưởng đúng 1/5 phần di sản của mình — hoàn toàn KHÔNG bị ảnh hưởng bởi việc mẹ bạn mất trước, và CON CỦA CẬU (tức là anh chị em họ của bạn) KHÔNG có quyền thừa kế gì từ bà ngoại ở thời điểm này (vì cậu — cha của họ — vẫn còn sống, chưa đến lượt thế vị). Chỉ trong trường hợp CHÍNH NGƯỜI CẬU cũng đã mất trước bà ngoại, thì con của cậu mới được hưởng thế vị phần của cậu, tương tự như cách các bạn hưởng thế vị phần của mẹ mình. Tóm lại, với thông tin bạn cung cấp (mẹ bạn là người mất trước bà ngoại trong số 5 người con), phần thừa kế thế vị chỉ liên quan đến CÁC CON CỦA MẸ BẠN (tức bạn và anh chị em ruột), không liên quan đến con của cậu — TRỪ KHI trong 5 người con của bà ngoại có nhiều hơn một người đã mất trước bà ngoại (bao gồm cả cậu), thì khi đó phần thừa kế thế vị mới mở rộng sang cả nhánh của cậu. Gia đình nên làm gì: 1) Xác định chính xác trong 5 người con của bà ngoại, CÓ BAO NHIÊU người đã mất trước bà ngoại (không chỉ riêng mẹ bạn) — đây là yếu tố quyết định ai được hưởng thế vị và tổng số "phần" di sản được chia là bao nhiêu. 2) Thu thập đầy đủ giấy tờ chứng minh quan hệ huyết thống (giấy khai sinh của mẹ bạn xác nhận là con của bà ngoại, giấy khai sinh của các anh chị em bạn xác nhận là con của mẹ), giấy chứng tử của mẹ bạn và của bà ngoại, xác định rõ ai mất trước ai (thời điểm mất của mẹ bạn phải trước hoặc cùng thời điểm bà ngoại mất thì mới áp dụng thừa kế thế vị). 3) Việc "cha cho đất 2 anh em" mà bạn nhắc đến cần làm rõ đây là đất riêng của cha bạn cho tặng (không liên quan đến di sản của bà ngoại) hay là một phần đất thuộc di sản của bà ngoại đã được các đồng thừa kế thỏa thuận phân chia trước đó — nếu là trường hợp sau, cần rà soát lại xem việc phân chia đó đã đúng và đủ phần thế vị theo luật hay chưa, tránh phát sinh tranh chấp sau này. 4) Nên làm việc với các đồng thừa kế khác (các cậu, dì còn sống) để thống nhất về hàng thừa kế, việc khai nhận di sản thừa kế tại tổ chức công chứng, và nếu cần, tham vấn luật sư để rà soát chính xác tỷ lệ phân chia trước khi làm thủ tục sang tên, tránh sai sót về sau.Nguồn: Điều 651, Điều 652 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13

Có câu hỏi pháp lý muốn thấy ở đây? Cho chúng tôi biết.