91/2015/QH13Còn hiệu lực
Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017
Bố/mẹ tôi mất không để lại di chúc. Vậy tài sản (nhà đất, tiền...) được chia cho những ai, theo thứ tự nào? Con nuôi, con riêng, vợ/chồng có được hưởng không, và mỗi người được bao nhiêu?
Khi người mất không để lại di chúc, di sản được chia THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT - tức chia theo hàng thừa kế do luật quy định, những người cùng hàng được hưởng phần bằng nhau. Căn cứ là Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13.
1) KHI NÀO CHIA THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13: thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi "a) Không có di chúc; b) Di chúc không hợp pháp; c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;… d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." Trường hợp của bạn (không có di chúc) thuộc điểm a.
Thời điểm mở thừa kế (Điều 611): là thời điểm người có tài sản chết. Từ thời điểm này, di sản được xác định và chia cho người thừa kế.
2) HÀNG THỪA KẾ - AI ĐƯỢC HƯỞNG VÀ THEO THỨ TỰ NÀO
Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định:
"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."
Áp dụng: nếu người mất còn vợ/chồng, cha mẹ, con - tất cả những người này thuộc HÀNG THỨ NHẤT và chia đều di sản. Con nuôi (hợp pháp) và con đẻ đều thuộc hàng thứ nhất, hưởng như nhau; con riêng vẫn là con đẻ của người mất nên cũng thuộc hàng thứ nhất. Chỉ khi KHÔNG còn ai ở hàng thứ nhất thì mới đến hàng thứ hai, rồi hàng thứ ba.
Ví dụ: ông A mất, còn vợ, 2 con và mẹ đẻ (4 người hàng thứ nhất). Di sản của ông A chia làm 4 phần bằng nhau. Lưu ý phải xác định phần di sản của ông A trước: nếu nhà đất là tài sản chung vợ chồng thì thường một nửa là của vợ, nửa còn lại mới là di sản của ông A để chia thừa kế.
3) MỘT LƯU Ý: NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC DI CHÚC (áp dụng khi CÓ di chúc)
Để tham khảo: kể cả khi có di chúc, một số người vẫn được hưởng tối thiểu. Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, và con thành niên không có khả năng lao động "vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật", trong trường hợp họ không được di chúc cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn 2/3 suất đó. (Quy định này bảo vệ thân nhân gần gũi khỏi bị truất hoàn toàn bằng di chúc.)
BẠN NÊN LÀM GÌ
1) Xác định di sản: liệt kê tài sản của người mất; nếu là tài sản chung vợ chồng thì tách phần của người mất trước khi chia thừa kế.
2) Xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (vợ/chồng, cha mẹ đẻ và nuôi, con đẻ và con nuôi).
3) Các đồng thừa kế lập VĂN BẢN THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN (hoặc văn bản khai nhận di sản nếu chỉ một người thừa kế), công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng; với nhà đất thì làm thủ tục sang tên theo phần được chia.
4) Nếu các bên không thỏa thuận được, có thể khởi kiện chia di sản thừa kế tại Tòa án. Lưu ý thời hiệu yêu cầu chia di sản (đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế).
5) Với di sản lớn hoặc quan hệ thừa kế phức tạp (nhiều đời, con nuôi, con riêng, thừa kế thế vị), nên tham vấn công chứng viên/luật sư để chia đúng và tránh tranh chấp.Nguồn: Điều 611, 644, 650, 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13