← Tất cả ví dụ

Ví dụ thực tế về Đất đai — Trang 7

Mỗi câu trả lời dưới đây từng được đưa ra thật, với trích dẫn chính xác đến Điều — Khoản từ văn bản gốc. Danh sách này sẽ tiếp tục được bổ sung theo thời gian.

67 ví dụ về Đất đai · trang 7/9

91/2015/QH13Còn hiệu lực

Chưa làm thừa kế, đất sở hữu chung — chỉ cần ủy quyền từ đồng sở hữu còn lại là bán được đất?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Luật sư cho em hỏi chưa làm thừa kế ,đất sở hữu chung, mà khăng khăng bảo ủy quyền cho người sở hữu chung còn lại là bán đụơc là sao ạ

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Không đúng — nếu đất là di sản thừa kế chưa được chia (title vẫn đứng tên người đã mất, hoặc chưa hoàn tất thủ tục khai nhận/phân chia di sản), thì chỉ có giấy ủy quyền của MỘT đồng sở hữu là không đủ căn cứ để bán toàn bộ mảnh đất, dù người đó có "khăng khăng" thế nào. Về nguyên tắc sở hữu chung: khoản 1 Điều 218 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định "Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình" — nghĩa là mỗi người chỉ có quyền tự quyết định với PHẦN của riêng mình, không có quyền định đoạt phần của người khác. Khoản 2 điều này nói rõ thêm: "Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật." Tức là muốn bán toàn bộ mảnh đất (tài sản chung), phải có sự đồng thuận của TẤT CẢ đồng sở hữu, không phải chỉ một người. Về việc dùng ủy quyền: Luật Đất đai 31/2024/QH15 có dự liệu cơ chế ủy quyền cho nhóm người cùng sử dụng đất — điểm b khoản 2 Điều 27 quy định: "Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì các thành viên cùng nhau thực hiện hoặc ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất." Điểm mấu chốt cần lưu ý: ủy quyền ở đây phải đến từ TẤT CẢ các thành viên/đồng sở hữu cùng nhau ủy quyền cho một người đại diện — không phải một đồng sở hữu tự ý ủy quyền thay cho những người khác, và càng không phải chỉ một người trong số các đồng thừa kế "nhận ủy quyền" từ một người khác rồi coi như đủ điều kiện bán thay cho toàn bộ những đồng thừa kế còn lại chưa hề ký giấy tờ gì. Còn một điểm quan trọng hơn nữa trong trường hợp đất là di sản thừa kế CHƯA được chia: điểm a khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 31/2024/QH15 quy định điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng là phải "Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất." Nếu sổ đỏ vẫn đứng tên người đã mất và thủ tục khai nhận di sản/phân chia di sản thừa kế (theo Điều 660–662 Bộ luật Dân sự) chưa được thực hiện, thì về mặt pháp lý CHƯA CÓ AI đứng tên hợp pháp đối với phần đất đó để có quyền bán — kể cả người được ủy quyền, vì ủy quyền chỉ có thể trao quyền mà người ủy quyền thực sự có, không thể ủy quyền một quyền mà bản thân người ủy quyền cũng chưa có (vì chưa hoàn tất thủ tục thừa kế để xác lập quyền sở hữu riêng của mình). Tóm lại, có ba lớp vấn đề cần làm rõ trước khi tin vào lời khẳng định "chỉ cần ủy quyền là bán được": 1) Đất đã có sổ đỏ đứng tên chung của các đồng sở hữu hiện tại (đã hoàn tất thừa kế) hay vẫn đứng tên người đã mất (chưa làm thừa kế)? Nếu chưa làm thừa kế, phải hoàn tất thủ tục khai nhận/phân chia di sản trước, không thể bỏ qua bước này bằng ủy quyền. 2) Nếu đã đứng tên chung hợp pháp của các đồng sở hữu, việc bán toàn bộ đất vẫn cần sự đồng ý và ủy quyền của TẤT CẢ đồng sở hữu, không phải chỉ một người ủy quyền cho người kia rồi coi là đủ. 3) Nếu có ý định lập văn bản ủy quyền, cần làm rõ nội dung ủy quyền cụ thể là gì (chỉ đại diện làm thủ tục, hay được toàn quyền quyết định giá bán, nhận tiền...), và nên công chứng/chứng thực văn bản ủy quyền để có giá trị chứng cứ rõ ràng, tránh tranh chấp sau này về phạm vi được ủy quyền. Nếu người đồng sở hữu kia vẫn cố tình tiến hành bán mà chưa có sự đồng ý hợp pháp của bạn (và các đồng thừa kế/đồng sở hữu khác), bạn nên chủ động thông báo bằng văn bản đến người mua tiềm năng (nếu biết) và văn phòng công chứng dự kiến thực hiện giao dịch về việc đất đang có tranh chấp quyền sở hữu, đồng thời cân nhắc khởi kiện yêu cầu tòa án xác nhận quyền sở hữu chung và ngăn chặn giao dịch nếu cần thiết.Nguồn: Điều 218, Điều 660–662 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 27, Điều 45 Luật Đất đai 31/2024/QH15
31/2024/QH15Còn hiệu lực

Đất bị thu hồi 10 năm trước, chưa từng đi nhận tiền đền bù — giờ còn đòi lại được không?

Luật · Ban hành 18.01.2024 · Hiệu lực 01.08.2024

Em chào cả nhà. Em có việc xin hỏi các anh chị chỉ giúp cách giải quyết + Việc là: Bố em có 01 sào đất ruộng bị xã thu hồi từ 10 năm trước nhưng bố em chưa đi nhận tiền đền bù, ( nhà em ko phải chống đối ko nhận tiền mà là ko biết để đi lấy tiên) vậy bây giờ có cách nào để bố em nhận tiền đền bù ko. 1. Nhà em lên làm đơn kiến nghị lên UBND xã đơn như thế nào mong AC gợi ý cho em biết

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Tin tốt là: pháp luật đất đai không có quy định nào khiến khoản tiền đền bù đã được phê duyệt nhưng chưa nhận bị mất đi theo thời gian — 10 năm không lấy không đồng nghĩa với việc mất quyền nhận tiền. Căn cứ trực tiếp là khoản 4 Điều 94 Luật Đất đai 31/2024/QH15, quy định về kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: "Trường hợp người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền lãi từ khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường, hỗ trợ." Điều luật này cho thấy rõ hai điểm quan trọng: (1) khoản tiền không bị thu hồi lại ngân sách nhà nước hay bị hủy bỏ chỉ vì người dân chưa đến nhận — nó được GỬI GIỮ tại một tài khoản riêng, chờ người có quyền đến nhận; (2) không chỉ giữ nguyên số tiền gốc, phần LÃI phát sinh trong suốt thời gian chưa nhận cũng thuộc về gia đình bạn, chứ không bị mất đi. Luật không quy định thời hạn tối đa nào để đi nhận số tiền này, cũng không có điều khoản nào nói rằng sau một khoảng thời gian nhất định (5 năm, 10 năm...) quyền nhận tiền sẽ chấm dứt. Cần lưu ý: đây là kết luận rút ra từ việc Điều 94 không đặt ra cơ chế tịch thu hay hoàn trả ngân sách, chứ luật không có câu nào nói thẳng "không có thời hiệu" — nhưng với cách quy định giữ tiền trong tài khoản chờ chi trả kèm lãi như trên, về bản chất quyền của gia đình bạn vẫn còn nguyên. Các bước nên làm: 1) Liên hệ trực tiếp với UBND xã (nơi có đất bị thu hồi) hoặc đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đó (thường là Trung tâm phát triển quỹ đất hoặc Ban bồi thường giải phóng mặt bằng cấp huyện) để xác minh: khoản tiền đền bù cho thửa đất của bố bạn hiện đang được giữ ở đâu, số tài khoản/đơn vị quản lý nào, và số tiền gốc + lãi hiện tại là bao nhiêu. 2) Chuẩn bị hồ sơ: giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất trước khi bị thu hồi (sổ đỏ hoặc giấy tờ tương đương thời điểm đó), quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, hỗ trợ đã được phê duyệt cho thửa đất (nếu gia đình còn giữ, hoặc xin trích lục lại tại UBND xã/phòng Tài nguyên Môi trường); giấy tờ tùy thân của bố bạn (hoặc người đại diện hợp pháp nếu bố bạn không trực tiếp đi được). 3) Đơn kiến nghị gửi UBND xã (hoặc đơn vị đang giữ khoản tiền) nên có các nội dung: họ tên, thông tin thửa đất đã bị thu hồi (số thửa, diện tích, vị trí), quyết định thu hồi đất số... ngày... (nếu biết), lý do chưa nhận được tiền đền bù (không biết thông tin, không phải từ chối nhận), và đề nghị được xác nhận số tiền đền bù (gốc và lãi phát sinh) còn tồn đọng, đồng thời đề nghị hướng dẫn thủ tục để nhận khoản tiền này. 4) Nếu UBND xã không có thẩm quyền trực tiếp chi trả (thường việc quản lý khoản tiền tồn đọng do đơn vị/tổ chức thực hiện bồi thường của dự án nắm giữ), UBND xã có trách nhiệm hướng dẫn hoặc chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền xử lý. 5) Nếu sau khi liên hệ mà cơ quan liên quan từ chối chi trả hoặc viện dẫn lý do không có căn cứ pháp luật rõ ràng (ví dụ nói đã hết thời hạn, tiền đã bị thu hồi ngân sách), gia đình có quyền khiếu nại theo trình tự hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền lợi, với căn cứ chính là khoản 4 Điều 94 nêu trên.Nguồn: Điều 91, Điều 94 Luật Đất đai 31/2024/QH15
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Đất hương hỏa bị con dâu tự ý tách hai sổ đỏ, con bà đang rao bán — đồng thừa kế phải làm sao?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Dạ e chào a c luật sư. Sự việc của e như sau mong a c giúp e giải đáp thắc mắc với ạ . E cảm ơn ạ! Ông bà cố e để lại 1 mảnh đất cùng nhà thờ , sau khi ông bà mất thì chỉ có giấy trích lục ghi đất hương hoả mà ko có di chúc, ông có 3 người con nhưng mất 2 còn 1 . Sau thời gian có bán đất 1 nữa mọi người đồng thừa kế đều kí để bán. Mảnh đất còn lại đang là nhà thờ hiện có bà dâu ở cùng con , nhưng bà tự ý đi làm được 2 sổ đỏ bà 1 sổ và cho con bà 1 sổ. Con bà đang bán mảnh đất đó . Thì cho e hỏi các gia đình đồng thừa kế phải làm sao đây ạ.Bên các gia đình còn lại chỉ muốn lấy lại để làm nhà thờ tự thôi chứ ko chia đất cho nhau

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Trước hết cần làm rõ một điểm quan trọng: "đất hương hỏa" theo cách gọi trong gia đình không tự động có địa vị pháp lý đặc biệt nếu không xuất phát từ một di chúc chỉ định rõ. Điều 645 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 về "di sản dùng vào việc thờ cúng" chỉ áp dụng khi người để lại di sản đã LẬP DI CHÚC và trong di chúc dành riêng một phần di sản cho việc thờ cúng, giao cho người được chỉ định quản lý — phần di sản đó không được đem chia thừa kế. Trường hợp của gia đình bạn, theo câu hỏi, ông bà cố mất mà KHÔNG có di chúc, chỉ có giấy trích lục ghi "đất hương hỏa" — nếu đúng là không có di chúc, mảnh đất này về bản chất pháp lý là di sản thừa kế thông thường, được chia theo pháp luật (Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự: thừa kế theo pháp luật áp dụng khi không có di chúc), chứ không đương nhiên là tài sản thờ cúng bất khả xâm phạm theo Điều 645. Việc cả gia đình cùng ký bán một nửa đất trước đây ("mọi người đồng thừa kế đều ký để bán") thực ra cũng cho thấy trong thực tế, mảnh đất này đã được gia đình đối xử như di sản thừa kế chung, cần sự đồng ý của tất cả đồng thừa kế mới có thể chuyển nhượng hợp lệ — đây là điểm có lợi khi lập luận về phần đất còn lại. Với phần đất còn lại (đang là nhà thờ), người con dâu tự ý làm hai sổ đỏ — một mang tên bà, một mang tên con bà — mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế khác là hành vi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Nếu bà chỉ là vợ của một trong những người con đã mất (không phải bản thân là đồng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất tại Điều 651 — vốn chỉ gồm vợ/chồng, cha mẹ đẻ/nuôi, con đẻ/nuôi của người để lại di sản), thì về nguyên tắc bà không có quyền đứng tên sổ đỏ đối với phần di sản chưa được chia hợp pháp cho chồng bà (nếu chồng bà đã mất trước khi chia di sản, phần của chồng bà chuyển cho các con của bà theo thừa kế thế vị, không phải cho bà tự động đứng tên toàn bộ). Về căn cứ để yêu cầu hủy hai sổ đỏ: điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai 31/2024/QH15 quy định Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trong hai trường hợp liên quan trực tiếp: (d) Giấy chứng nhận cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng nguồn gốc sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai tại thời điểm cấp; (đ) Giấy chứng nhận đã cấp bị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy. Như vậy, con đường pháp lý đúng là: các đồng thừa kế khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tuyên hủy hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà và con bà, với lý do đất là di sản thừa kế chung chưa được phân chia hợp pháp, việc cấp sổ cho một mình bà/con bà là không đúng đối tượng, không đúng nguồn gốc sử dụng đất. Điểm CẦN HÀNH ĐỘNG GẤP: con bà hiện đang rao bán mảnh đất. Đây là rủi ro lớn nhất. Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình: nếu giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký và sau đó chuyển giao cho người mua ngay tình (không biết, không có nghĩa vụ phải biết tài sản có tranh chấp) căn cứ vào việc đăng ký đó, giao dịch với người mua ngay tình đó có thể KHÔNG bị vô hiệu — dù sổ đỏ gốc bị hủy sau này. Nói cách khác, nếu để con bà bán trót lọt cho một người mua không biết chuyện tranh chấp, việc đòi lại đất từ người mua sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với việc ngăn chặn giao dịch ngay bây giờ. Các việc cần làm ngay: 1) Gửi ngay đơn khiếu nại/kiến nghị đến Văn phòng đăng ký đất đai và UBND cấp xã nơi có đất, thông báo về việc đất đang có tranh chấp thừa kế, đề nghị tạm dừng mọi thủ tục sang tên, chuyển nhượng liên quan đến hai sổ đỏ nói trên — đây là cách nhanh nhất để chặn giao dịch trước khi nó hoàn tất. 2) Nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất, yêu cầu: (a) xác nhận mảnh đất là di sản thừa kế chung của các đồng thừa kế theo pháp luật (không có di chúc); (b) tuyên hủy hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà và con bà; (c) yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp) theo quy định tố tụng dân sự để ngăn việc bán đất trong lúc vụ án đang được giải quyết — đây là bước quan trọng để bảo vệ được ý muốn giữ đất làm nhà thờ tự thay vì chia đất, vì một khi có quyết định của tòa xác nhận là di sản thừa kế chung, các đồng thừa kế hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau tiếp tục giữ nguyên làm nơi thờ cúng thay vì chia, miễn tất cả đồng thừa kế đồng ý. 3) Thu thập chứng cứ: giấy trích lục đất hương hỏa gốc, giấy tờ chứng minh quan hệ huyết thống/thừa kế giữa các thành viên, văn bản/chữ ký của các đồng thừa kế khi bán nửa đất trước đây (chứng minh cách gia đình đã đối xử với đất như di sản chung), và nếu có thể, xác minh thời điểm hai sổ đỏ được cấp cho bà và con bà để làm căn cứ khởi kiện.Nguồn: Điều 645, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 133 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 152 Luật Đất đai 31/2024/QH15
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Mua đất trả góp 8 năm, mới đóng tháng đầu đã đứng tên đồng sở hữu — hợp đồng cần viết gì để tránh rủi ro?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Chào mọi người em muốn tham khảo ý kiến ạ Bạn của chồng e muốn bán cho vkck e 1 mảnh rẫy đồi đang có sẵn cây trồng diện tích khoảng 4 xào có sổ đầy đủ giá 1ty2. Do điều kiện kinh tế vkck e k đủ nên anh bạn đó cho vkck e trả góp hàng tháng 15tr trong 8 năm tính ra gần 1ty5( nếu có nhiều góp nhiều ngắn tgian lại). Chỉ cần đóng tháng đầu tiên là đi công chứng đồng sở hữu đất. E thấy như vậy hời cho vkcK e k biết có rủi ro gì k ạ, và hợp đồng góp tiền hàng tháng cần nội dung như nào để rõ ràng tránh những vấn đề sau này ạ. Em cảm ơn

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Đề nghị của bên bán — công chứng đứng tên đồng sở hữu ngay sau khi đóng tháng đầu tiên, dù mới trả 15 triệu trên tổng 1,5 tỷ — không phải là ưu đãi "hời" như cảm nhận ban đầu. Ngược lại, đây là cách làm đảo ngược thứ tự bảo vệ thông thường trong mua bán trả góp, và rủi ro chủ yếu rơi vào phía người bán chứ không phải bên mua — nên cần hiểu rõ trước khi quyết định, kể cả khi bên bán không có ý xấu. Pháp luật dân sự có một cơ chế được thiết kế sẵn cho đúng tình huống mua trả chậm, trả dần này: khoản 1 Điều 453 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định "Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác". Nghĩa là mặc định, khi mua trả góp, người bán vẫn đứng tên và giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả xong toàn bộ 1,5 tỷ — đây là công cụ bảo vệ người bán, đảm bảo nếu người mua ngừng trả giữa chừng thì đất vẫn thuộc về người bán, không phải đi kiện đòi lại tài sản đã sang tên. Cách bên bán đề xuất — công chứng đồng sở hữu ngay từ tháng đầu — bỏ qua hẳn cơ chế bảo vệ này. Về nguyên tắc, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực theo điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 31/2024/QH15, và đây là điều kiện để giao dịch có hiệu lực theo Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự. Một khi đã công chứng và anh chị được ghi tên là đồng sở hữu, theo các quy định về sở hữu chung theo phần (Điều 207–210 Bộ luật Dân sự), anh chị có quyền thực sự đối với phần đất tương ứng — bên bán KHÔNG thể tự ý lấy lại phần đó chỉ vì anh chị ngừng đóng tiền giữa chừng; muốn thu hồi, bên bán phải khởi kiện ra tòa hoặc phải có sẵn một cơ chế ràng buộc khác (như thế chấp) được thỏa thuận từ đầu. Nói cách khác: cách làm này thiệt cho bên bán nhiều hơn, và nếu bên bán vẫn đồng ý, cần rất cẩn thận xem lại toàn bộ thỏa thuận — có thể có hiểu lầm về hậu quả pháp lý, hoặc có điều khoản ràng buộc khác chưa được nói rõ trong phần tóm tắt câu hỏi. Rủi ro cụ thể cho phía anh chị (bên mua) cần lưu ý dù mình là bên có lợi hơn về mặt pháp lý trong cách làm này: 1) Về hiệu lực của thỏa thuận miệng "đóng tháng đầu là công chứng": đây cần được ghi thành văn bản rõ ràng, có công chứng nếu có thể, vì Điều 401 Bộ luật Dân sự quy định hợp đồng chỉ có thể sửa đổi, hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định pháp luật — nếu chỉ thỏa thuận miệng, sau này bên bán đổi ý (ví dụ giá đất tăng, muốn hủy) sẽ khó chứng minh. 2) Nếu về sau phát sinh tranh chấp (ví dụ anh chị chậm đóng tiền một vài tháng), bên bán không thể đơn phương lấy lại phần đất đã đứng tên đồng sở hữu của anh chị — nhưng đồng thời anh chị cũng nên lường trước: nếu HAI BÊN muốn có một cơ chế "nếu chậm trả nhiều lần thì hủy thỏa thuận, trả lại đất" cho công bằng cả hai phía, cần ghi rõ điều khoản này và cách xử lý (hoàn tiền bao nhiêu, trừ đi thiệt hại gì) — nếu không ghi, khi có tranh chấp sẽ phải ra tòa và tốn thời gian. 3) Rẫy đồi đang có cây trồng — cần làm rõ trong hợp đồng cây trồng có tính vào giá 1,2 tỷ hay không, ai được thu hoạch trong thời gian trả góp 8 năm, để tránh tranh cãi sau này. Hợp đồng góp tiền hàng tháng nên có tối thiểu các nội dung sau: - Thông tin đầy đủ hai bên, thông tin thửa đất đúng theo sổ đỏ (số thửa, tờ bản đồ, diện tích, địa chỉ). - Tổng giá trị chuyển nhượng (1,5 tỷ), giá gốc đất (1,2 tỷ) và phần chênh lệch được xác định rõ là lãi trả chậm hai bên tự nguyện thỏa thuận (dựa trên Điều 453) — tránh để mập mờ giữa giá bán và lãi suất, vì lãi suất cho vay giữa cá nhân có giới hạn theo Điều 468 Bộ: nếu bên bán sau này bị hiểu là cho vay nặng lãi trá hình dưới danh nghĩa mua bán, có thể phát sinh rủi ro pháp lý khác — nên ghi rõ đây là chênh lệch giá do trả chậm, không phải lãi vay riêng biệt. - Lịch thanh toán chi tiết: ngày đến hạn và số tiền của từng kỳ trong 96 tháng (8 năm), hình thức thanh toán (chuyển khoản có sao kê, hoặc tiền mặt có biên nhận ký xác nhận mỗi lần). - Điều khoản về thời điểm và điều kiện công chứng sang tên: công chứng toàn bộ sau khi trả đủ 100%, hoặc nếu hai bên vẫn muốn công chứng đồng sở hữu sớm, ghi rõ tỷ lệ phần quyền tương ứng với số tiền đã đóng tại từng thời điểm, kèm theo cơ chế thế chấp ngược lại cho bên bán để bảo đảm phần còn nợ. - Chế tài khi một bên vi phạm: bên mua chậm trả bao nhiêu kỳ thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng, mức phạt/lãi chậm trả cụ thể; bên bán không thực hiện đúng cam kết công chứng, sang tên thì phải hoàn tiền và bồi thường ra sao. - Cách giải quyết tranh chấp (thương lượng trước, sau đó tòa án nào có thẩm quyền). Lawgical đã soạn sẵn một mẫu "Văn bản thỏa thuận trả tiền theo định kỳ" dựa trên đúng các căn cứ pháp lý trên để anh chị điền thông tin cụ thể — nên công chứng văn bản này cùng lúc với hợp đồng đặt cọc/chuyển nhượng để tăng giá trị chứng cứ nếu sau này có tranh chấp.Nguồn: Điều 453, Điều 401, Điều 117, Điều 119, Điều 207–210, Điều 468 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 27 Luật Đất đai 31/2024/QH15
281/2026/NĐ-CPChưa có hiệu lực

Nghị định mới về xử phạt đất đai sắp có hiệu lực — vợ chồng cùng đứng tên vi phạm có bị phạt gấp đôi không, mức phạt có tăng không?

Nghị định · Ban hành 13.07.2026 · Hiệu lực 31.08.2026

Em nghe nói từ cuối tháng 8/2026 có nghị định mới sửa quy định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai. Đất nhà em hai vợ chồng cùng đứng tên trong sổ đỏ, lỡ có vi phạm (ví dụ sử dụng sai mục đích hoặc lấn ranh) thì có bị tính phạt 2 lần vì có 2 người đứng tên không? Và mức phạt lấn chiếm đất nói chung có tăng lên theo nghị định mới này không?

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Hai câu hỏi cần tách riêng, vì câu trả lời khác nhau — và trước hết cần lưu ý nghị định này CHƯA có hiệu lực: Nghị định 281/2026/NĐ-CP ban hành ngày 13/07/2026 nhưng theo Điều 10, chỉ có hiệu lực thi hành từ ngày 31/08/2026. Ở thời điểm hiện tại, xử phạt vi phạm đất đai vẫn áp dụng nguyên văn Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Về việc vợ chồng cùng đứng tên có bị phạt gấp đôi không: đây chính là điểm mới đáng chú ý nhất của Nghị định 281/2026/NĐ-CP đối với người dân bình thường. Điều 1 nghị định này bổ sung Điều 3a vào Nghị định 123/2024/NĐ-CP, trong đó khoản 2 quy định rõ: "Vợ và chồng chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân." Nói cách khác, kể từ 31/08/2026, nếu vợ chồng cùng đứng tên một thửa đất và cùng vi phạm, cơ quan có thẩm quyền xử phạt như một người vi phạm — không tách ra phạt riêng từng người rồi cộng lại, không bị tính là 2 chủ thể vi phạm để nhân đôi mức phạt. Về việc mức phạt lấn/chiếm đất có tăng không: KHÔNG — Nghị định 281/2026/NĐ-CP không sửa đổi Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, tức là khung phạt tiền theo diện tích lấn/chiếm đất (từ 3 triệu đồng cho diện tích dưới 0,02 héc-ta đến 200 triệu đồng cho diện tích từ 2 héc-ta trở lên, tùy loại đất) giữ nguyên như hiện hành. Nghị định mới chủ yếu sửa các quy định về thẩm quyền xử phạt và một số biện pháp khắc phục hậu quả, không đụng đến bảng mức phạt cho hành vi lấn/chiếm đất. Điều thực sự thay đổi mạnh là thẩm quyền phạt tiền của cấp xã: theo Điều 6 nghị định này (sửa khoản 1 Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được quyền phạt tiền đến 250.000.000 đồng — tăng rất mạnh so với mức 5.000.000 đồng trước đây. Đây là hệ quả của việc bỏ cấp huyện trong bộ máy chính quyền địa phương: cấp xã giờ đảm nhận luôn phần lớn thẩm quyền xử phạt mà trước đây thuộc về cấp huyện. Tương tự, thẩm quyền của Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành đất đai cũng được nâng lên mức phạt tiền đến 400.000.000 đồng (Điều 7). Vì vậy, một vụ vi phạm đất đai nay có thể được xử phạt dứt điểm ngay ở cấp xã mà không cần chuyển lên cấp trên như trước, dù mức phạt cụ thể cho từng hành vi (ví dụ lấn/chiếm đất tại Điều 13) không thay đổi.Nguồn: Điều 1 (bổ sung Điều 3a), Điều 6 (sửa Điều 30), Điều 7 (sửa Điều 31), Điều 10 Nghị định 281/2026/NĐ-CP; Điều 13, Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Công ty bất động sản trễ hẹn 4 tháng không giao được căn, giờ đòi giữ 50% tiền cọc — kiện dân sự hay hình sự?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Em có đặt cọc 1 căn chung cư qua sale và được dẫn đến ký hợp đồng với cty bất động sản, sale cũng ký thêm bản cam kết phạt cọc 1:1 với em. Tuy nhiên quá hạn 4 tháng so với cam kết mà họ không lấy được căn. Sau đó vì quá sốt ruột nên em tự đi mua căn khác. Em có hỏi sale xem phương án đối với căn em đã đặt cọc thế nào. Sale bảo em là vì công ty đã lấy được căn này rồi nên sẽ hỏi công ty xem phạt em bao nhiêu % tiền cọc (lúc này là tháng 7). Em chờ tới tháng 8 thì sale bảo là công ty sẽ phạt em 50% cọc. Cùng thời điểm đó, qua một số mối quan hệ, em biết là công ty này không hề lấy được đúng căn như hợp đồng đã ký. Sale có dấu hiệu lừa em để chiếm 50% tiền cọc. Em hỏi thì họ bảo do em đồng ý phương án này nên họ đã báo chủ đầu tư huỷ căn đó rồi (họ kêu huỷ từ tháng 7, trong khi chưa hề thảo luận với em là sẽ phạt bao nhiêu % cọc, chưa hề gọi em lên để kết thúc hợp đồng, và không hề có bằng chứng gì để chứng minh là họ đã lấy được đúng căn từ chủ đầu tư). Hiện tại họ không chịu trả lại em tiền cọc, em thấy đây là dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Em muốn nhờ các anh chị tư vấn giúp em vụ này nên kiện dân sự hay hình sự ạ? Em vẫn còn nguyên hợp đồng với công ty và bản cam kết phạt cọc với sale ạ. Trong bản cam kết nói là sau 4 tháng không có căn thì phạt 100% cọc, hiện tại đã quá hạn 4 tháng so với bản cam kết rồi ạ.

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Đọc kỹ lại thì bản cam kết bạn đang có thực ra rất có lợi cho bạn — vấn đề là công ty đang cố diễn giải ngược lại để né nghĩa vụ của họ. Nên tách bạch hai việc: quyền dân sự của bạn theo hợp đồng đặt cọc, và việc có đủ căn cứ hình sự hay không. Về bản chất pháp lý của đặt cọc: khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định rõ — nếu bên nhận đặt cọc (ở đây là công ty/sale) từ chối hoặc không thực hiện được việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại cho bên đặt cọc (bạn) tài sản đặt cọc VÀ một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc — tức là phải trả gấp đôi số tiền cọc, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác. Bản cam kết phạt cọc 1:1 mà bạn ký riêng với sale — nội dung "sau 4 tháng không có căn thì phạt 100% cọc" — chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc này: công ty là bên không giao được căn đúng hạn (đã quá hạn 4 tháng), nên theo đúng cam kết, họ là bên phải chịu phạt, phải trả lại cọc cộng thêm khoản tương đương 100% giá trị cọc — không phải ngược lại. Việc bạn tự đi mua căn khác sau khi họ đã vi phạm thời hạn cam kết không làm bạn mất quyền đòi cọc — vì lỗi vi phạm (không giao được căn trong 4 tháng) đã xảy ra trước, thuộc về công ty. Việc công ty đơn phương áp mức phạt 50% cho bạn, mà không hề trao đổi trước, không tổ chức thanh lý hợp đồng, và không có bằng chứng gì cho thấy họ đã thực sự giữ được đúng căn hộ theo hợp đồng — là công ty đang tự đặt ra một "thỏa thuận" không có thật rồi áp đặt cho bạn, trái với nội dung bản cam kết gốc. Nên kiện gì trước — dân sự: đây là hướng đi rõ ràng và khả thi nhất. Bạn có đầy đủ hợp đồng với công ty và bản cam kết phạt cọc với sale — hai văn bản này là chứng cứ trực tiếp để khởi kiện dân sự đòi lại tiền cọc và khoản phạt cọc tương đương 100% giá trị cọc theo đúng Điều 328 và nội dung cam kết đã ký. Đây là tranh chấp hợp đồng thông thường, không cần chứng minh yếu tố "cố ý chiếm đoạt" — chỉ cần chứng minh công ty vi phạm thời hạn cam kết. Về dấu hiệu hình sự: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13) đòi hỏi có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản — thường phải chứng minh được công ty đã có ý định chiếm đoạt ngay từ khi nhận cọc, hoặc dùng thủ đoạn gian dối cụ thể để không trả. Việc công ty hiện đang né tránh trả cọc, tự ý áp mức phạt không có căn cứ và không đưa ra được bằng chứng chứng minh, là dấu hiệu đáng ngờ nhưng bản thân nó là một dạng vi phạm/tranh chấp hợp đồng dân sự trước tiên. Nếu qua quá trình thu thập thêm được bằng chứng cho thấy công ty biết trước sẽ không giao được căn nhưng vẫn cố tình nhận cọc, hoặc cố tình chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối cụ thể, bạn hoàn toàn có thể đồng thời gửi đơn tố giác tới cơ quan công an để họ xác minh — khởi kiện dân sự và tố giác hình sự không loại trừ nhau. Gợi ý thứ tự làm: (1) gửi văn bản yêu cầu công ty hoàn trả cọc + khoản phạt cọc theo đúng Điều 328 và bản cam kết, nêu rõ thời hạn trả lời; (2) nếu công ty không phản hồi hoặc tiếp tục từ chối, khởi kiện dân sự ra Tòa án nơi công ty có trụ sở hoặc nơi ký hợp đồng, đòi lại toàn bộ số tiền theo cam kết; (3) song song, nếu thu thập thêm được bằng chứng về ý định gian dối ngay từ đầu, có thể nộp đơn tố giác tội phạm để cơ quan công an xem xét khởi tố theo Điều 174.Nguồn: Điều 328 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 174 Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13
91/2015/QH13Còn hiệu lực

Bà nội cho ông cậu mượn nửa mảnh đất ở tạm, giờ bà mất — con cháu đòi lại được không?

Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017

Chào mng. Mình cần tư vấn đất đai ạ. Nhà mình có miếng đất chia làm 2 nửa. Do ngày trước nhà ông cậu (em trai của bà nội) đông con nên bà nội có cho ông cậu mượn miếng đất ở tạm. Có ký giấy nhượng quyền cho mượn. Nhưng trên giấy tờ cũ của xã tỉnh vẫn đứng tên bà nội mình. Giờ bà đã mất. Bà có sinh 1 người con duy nhất là bố mình. Giờ gia đình mình muốn đòi lại miếng đất đó thì có làm được không ạ. Mong mọi người hỗ trợ ạ. Mình ở Phú Thọ.

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Được — và về mặt pháp lý, tình huống này khá rõ ràng vì hai điểm mấu chốt đều có lợi cho gia đình bạn: giấy tờ đất chưa bao giờ đứng tên ông cậu, và có văn bản ghi rõ đây là quan hệ cho mượn chứ không phải cho hay bán. Bản chất giao dịch ngày trước: "giấy nhượng quyền cho mượn" mà bà nội ký với ông cậu, dù tên gọi có chữ "nhượng quyền", nhưng nội dung là cho mượn đất ở tạm — đây chính là hợp đồng mượn tài sản theo Điều 494 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13: bên cho mượn (bà nội) giao tài sản cho bên mượn (ông cậu) sử dụng, không thu tiền, và bên mượn phải trả lại khi hết thời hạn mượn hoặc khi mục đích mượn đã đạt được. Việc giấy tờ đất (sổ địa chính cũ của xã, tỉnh) vẫn đứng tên bà nội trong suốt thời gian đó là bằng chứng khẳng định quyền sử dụng đất chưa từng được chuyển giao — ông cậu chỉ có quyền sử dụng thực tế (ở tạm), không có quyền sở hữu hay quyền định đoạt đối với mảnh đất. Quyền đòi lại: khoản 3 Điều 496 quy định bên mượn phải trả lại tài sản đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn thì phải trả lại ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được (ở đây là khi nhà ông cậu không còn đông con, không còn cần ở tạm nữa — hoặc đơn giản là khi bên cho mượn có nhu cầu, theo khoản 1 Điều 499: bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích mượn). Đây là quyền đương nhiên của chủ sở hữu, không cần thêm điều kiện gì khác ngoài việc chứng minh đây đúng là quan hệ mượn. Bà nội mất thì quyền này có mất theo không? Không. Theo Điều 613 và Điều 614, kể từ thời điểm bà nội mất (thời điểm mở thừa kế), toàn bộ quyền và nghĩa vụ tài sản của bà — bao gồm quyền sử dụng đất đối với mảnh đất và quyền đòi lại phần đất đã cho ông cậu mượn — chuyển cho người thừa kế. Vì bà nội chỉ sinh một người con duy nhất là bố bạn, theo điểm a khoản 1 Điều 651 (hàng thừa kế thứ nhất gồm cha, mẹ, vợ, chồng, con của người chết), bố bạn là người thừa kế duy nhất ở hàng thừa kế thứ nhất — nếu bà nội không để lại di chúc khác, bố bạn đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền của bà, bao gồm cả quyền đòi lại đất cho mượn. Các bước nên làm: (1) Vì chỉ có một người thừa kế duy nhất, gia đình nên đến tổ chức hành nghề công chứng nơi có đất lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế đứng tên bố bạn, sau đó làm thủ tục đăng ký biến động/cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện thừa kế — bước này giúp giấy tờ hiện tại (đang là giấy tờ cũ mang tên bà) chính thức hợp lệ mang tên bố bạn, làm cơ sở vững chắc để đòi đất; (2) Gửi thông báo/đề nghị ông cậu trả lại phần đất đã mượn, giữ lại giấy "nhượng quyền cho mượn" làm bằng chứng gốc; (3) Nếu ông cậu không tự nguyện trả, gia đình gửi đơn yêu cầu hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất — bước bắt buộc trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 31/2024/QH15; hòa giải không thành thì khởi kiện ra Tòa án yêu cầu đòi lại tài sản cho mượn.Nguồn: Điều 494, Điều 496, Điều 499, Điều 613, Điều 614, Điều 651 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 235 Luật Đất đai 31/2024/QH15
31/2024/QH15Còn hiệu lực

Gửi tiền nhờ bố mẹ chồng mua đất hộ, ông bà tự bán miệng cho cháu — ngăn lại bằng cách nào?

Luật · Ban hành 18.01.2024 · Hiệu lực 01.01.2025

Trước mình có gửi tiền về quê bố mẹ chồng mua đất hộ, sổ thì ông bà giữ, hiện mình muốn kiện để ngăn chặn việc mua bán; do ông bà đã bán bằng miệng cho cháu ông bà, chồng mình nhận 450 triệu qua chuyển khoản nhưng chưa ký kết giấy tờ gì. Nhưng do ngay từ đầu ông bà giữ sổ không cho vợ chồng mình cầm nên mình không biết cụ thể sổ ra sao; còn mới đây chủ mới họ đang cầm sổ và gọi vợ chồng mình ra ký giấy sang tên; mình không muốn bán thì bước đầu tiên là phải làm gì, vì phía bố chồng không chịu trả đất. Bên mua thì họ là anh em nhà chồng và họ đang giữ sổ. Mình đi đâu để tra cứu và lấy rõ được thông tin số thửa của mảnh đất đó được nhỉ? Đó là đất phân lô đấu giá.

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Tin tốt trước: giao dịch giữa ông bà và người cháu chưa hoàn tất về mặt pháp lý, nên bạn vẫn còn thời gian để can thiệp — nhưng phải hành động trước khi họ ra công chứng ký hợp đồng chính thức. Vì sao chưa hoàn tất: theo điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 31/2024/QH15, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực mới có giá trị pháp lý. Thỏa thuận miệng, kể cả đã chuyển khoản 450 triệu, không phải là hợp đồng chuyển nhượng hợp lệ — về nguyên tắc đó chỉ là một khoản tiền đã trao (có thể bị coi là tiền đặt cọc hoặc khoản ứng trước, tùy cách hai bên thỏa thuận), đất vẫn đứng tên ông bà cho đến khi có hợp đồng công chứng và đăng ký biến động. Việc chủ mới đang cầm sổ và gọi vợ chồng bạn ra ký "giấy sang tên" chính là bước để hoàn tất giao dịch — nếu bạn không ký thì hồ sơ chưa thể nộp để sang tên theo đúng thủ tục thông thường. Về lý do vì sao bên mua cần cả vợ chồng bạn ký: nhiều khả năng vì họ biết tiền mua đất ban đầu do bạn gửi về, hoặc vì đất được mua trong thời kỳ hôn nhân nên họ muốn có đủ chữ ký của những người có thể có quyền lợi để tránh tranh chấp sau này. Đây là điểm bạn cần khai thác: nếu chứng minh được tiền mua đất là của vợ chồng bạn gửi về nhờ bố mẹ đứng tên hộ, bạn có căn cứ để yêu cầu xác nhận quyền lợi của mình đối với thửa đất, không chỉ đơn thuần là người bị mời ký cho xong việc. Bước đầu tiên — việc cần làm ngay: tuyệt đối không ký bất kỳ giấy tờ chuyển nhượng, ủy quyền hay xác nhận nào với bên mua cho đến khi vụ việc được làm rõ, kể cả khi bị hối thúc. Chữ ký của bạn vào lúc này là mắt xích họ đang cần để hoàn tất hồ sơ. Các bước tiếp theo: (1) Thu thập bằng chứng đã gửi tiền — sao kê chuyển khoản, tin nhắn/lời nhắn với bố mẹ chồng về mục đích gửi tiền mua đất; (2) Gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã nơi có đất — đây là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 31/2024/QH15; (3) Nếu hòa giải không thành hoặc cần ngăn chặn ngay vì nguy cơ bên mua tẩu tán/sang tên trước, có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xác định quyền lợi đối với tài sản (tranh chấp quyền sử dụng đất do có tiền góp mua), đồng thời nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời "cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp" hoặc "kê biên tài sản đang tranh chấp" theo khoản 6, khoản 7 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 — biện pháp này ngăn Văn phòng đăng ký đất đai xử lý hồ sơ sang tên trong lúc vụ việc đang được giải quyết. Về tra cứu thông tin thửa đất: bạn đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện (hoặc UBND cấp xã) nơi có đất, mang theo địa chỉ/vị trí thửa đất bạn biết được (vì là đất phân lô đấu giá nên UBND huyện có lưu quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá) để xin trích lục thông tin thửa đất, bản đồ địa chính và tình trạng pháp lý hiện tại (đứng tên ai, có đang thế chấp hay bị hạn chế giao dịch không). Đây là bước quan trọng để bạn biết chính xác diện tích, số thửa, số tờ bản đồ trước khi làm việc với luật sư hoặc nộp đơn ra tòa.Nguồn: Điều 27, Điều 235 Luật Đất đai 31/2024/QH15; Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13

Có câu hỏi pháp lý muốn thấy ở đây? Cho chúng tôi biết.