← Tất cả ví dụ

Ví dụ thực tế về Đất đai — Trang 9

Mỗi câu trả lời dưới đây từng được đưa ra thật, với trích dẫn chính xác đến Điều — Khoản từ văn bản gốc. Danh sách này sẽ tiếp tục được bổ sung theo thời gian.

67 ví dụ về Đất đai · trang 9/9

52/2014/QH13Còn hiệu lực

Chồng ký biên bản cắt đất làm lối đi, vợ đứng tên không đồng ý

Luật · Ban hành 19.06.2014 · Hiệu lực 01.01.2015

Đất mua sau khi kết hôn nhưng người vợ đứng tên. Người chồng ký vào biên bản cắt một phần đất làm lối đi chung, trong cuộc họp có chủ tịch UBND xã, công an xã, địa chính xã… cùng ký làm chứng. Đường đã đổ nhựa theo biên bản. Vài ngày sau người chồng không cho tiến hành tiếp vì vợ anh ta đứng tên và không đồng ý. Biên bản người chồng ký có còn hiệu lực không?

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Đất mua sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, dù chỉ một người đứng tên. Với tài sản chung là bất động sản, Điều 35 khoản 2 yêu cầu việc định đoạt phải có thỏa thuận BẰNG VĂN BẢN của cả hai vợ chồng. Cắt đất làm lối đi chung là hành vi định đoạt, hạn chế quyền sử dụng đối với bất động sản — nên về nguyên tắc cần chữ ký của cả vợ và chồng. Biên bản chỉ có chữ ký người chồng, xét theo Điều 26 về đại diện giữa vợ chồng khi giấy chứng nhận chỉ ghi tên một người: nếu người đứng tên (vợ) không xác lập giao dịch và không đồng ý, giao dịch do người kia xác lập trái quy định về đại diện có thể bị vô hiệu — trừ trường hợp bảo vệ người thứ ba ngay tình. Kết luận: biên bản người chồng ký không đương nhiên có hiệu lực để định đoạt phần đất, vì thiếu thỏa thuận văn bản của người vợ — vừa là người đứng tên, vừa là đồng sở hữu. Việc nhiều cán bộ xã ký làm chứng không thay được chữ ký của đồng sở hữu. Muốn buộc thực hiện, bên yêu cầu phải chứng minh người vợ đã biết và đồng ý (bằng văn bản khác, lời nói, hành vi), hoặc thỏa thuận lại, hoặc khởi kiện.Nguồn: Điều 26, Điều 33, Điều 35 khoản 2 Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13
123/2024/NĐ-CPCòn hiệu lực

Thẩm quyền xử phạt đất đai của Chủ tịch UBND cấp xã sau khi bỏ cấp huyện

Nghị định · Ban hành 04.10.2024 · Hiệu lực 04.10.2024

Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, mức xử phạt đối với hành vi không đăng ký biến động đất đai là 2–3 triệu đối với cá nhân, 4–6 triệu đối với tổ chức. Như vậy theo Điều 30 Nghị định này thì Chủ tịch UBND cấp xã không có thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức? Trong khi Nghị định 281/2026 sửa đổi cho Chủ tịch UBND cấp xã thẩm quyền phạt tới 250 triệu nhưng 31/8/2026 mới có hiệu lực. Vậy trước ngày đó, Chủ tịch UBND cấp xã có xử phạt tổ chức được không? Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện — nay đã bỏ cấp huyện — có được chuyển về cấp xã không, căn cứ pháp lý ở đâu?

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Đề bài có một nhầm lẫn cần chỉnh trước khi trả lời: 2–3 triệu (cá nhân) hay 4–6 triệu (tổ chức) tại Điều 16 khoản 2 là mức phạt cho hành vi; còn trần thẩm quyền tại Điều 30 được tính theo cá nhân và nhân đôi khi xử phạt tổ chức (Điều 5 khoản 4). Chủ tịch UBND cấp xã phạt được đến 5 triệu với cá nhân, tức đến 10 triệu với tổ chức — hành vi không đăng ký biến động của tổ chức (4–6 triệu) nằm trong trần này. Vậy Chủ tịch UBND cấp xã CÓ thẩm quyền xử phạt tổ chức về hành vi này ngay từ bây giờ, không cần đợi Nghị định 281/2026/NĐ-CP. Thẩm quyền của cấp huyện không tự động chuyển về xã. Căn cứ Điều 8 Nghị quyết 190/2025/QH15: • Khoản 1: chức danh chỉ đổi tên gọi, không đổi nhiệm vụ, quyền hạn — giữ nguyên thẩm quyền. • Khoản 2: chức danh thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn do sắp xếp bộ máy — Chính phủ phải quy định lại; trong thời gian chưa có quy định thì các chức danh “đang có thẩm quyền” tiếp tục thực hiện. Chủ tịch UBND cấp huyện là chức danh đã chấm dứt khi bỏ cấp huyện — không phải “đổi tên”, cũng không còn “đang có thẩm quyền” — nên mức trên 10 triệu đến 100 triệu (khoản 2 Điều 30) rơi vào khoảng trống thực thi, và không có căn cứ nào “chuyển ngang” thẩm quyền đó sang xã. Khoảng trống này được lấp đúng bằng cơ chế Điều 8 khoản 2: Nghị định 281/2026/NĐ-CP (ban hành 13/7/2026, hiệu lực 31/8/2026) sửa Điều 30 — Chủ tịch UBND cấp xã được phạt tiền đến 250 triệu đồng — đồng thời bãi bỏ khoản 2 Điều 30 về thẩm quyền cấp huyện (Điều 6; Điều 9 khoản 4). Trước 31/8/2026, vụ việc vượt trần của xã vẫn xử lý được bởi Chủ tịch UBND cấp tỉnh (đến 500 triệu, khoản 3 Điều 30) — chức danh “đang có thẩm quyền tiếp tục thực hiện” theo đúng Điều 8 khoản 2 Nghị quyết 190/2025/QH15.Nguồn: Điều 5.4, Điều 16.2, Điều 30 NĐ 123/2024/NĐ-CP; Điều 8 NQ 190/2025/QH15; Điều 6, 9, 10 NĐ 281/2026/NĐ-CP
31/2026/NQ-CPCòn hiệu lực

Cơ chế đặc thù khai thác đất công

Nghị quyết · Ban hành 24.06.2026 · Hiệu lực 24.06.2026

Nghị quyết 31/2026/NQ-CP cho phép khai thác nhà, đất công theo cơ chế đặc thù nào?

Công cụ đã dùng

search_legal_docsget_document
Bốn điểm đặc thù chính so với quy định thông thường về quản lý tài sản công: • Toàn quyền cho địa phương (Điều 3): Chủ tịch UBND cấp tỉnh được toàn quyền quyết định quản lý, khai thác nhà đất dôi dư — kể cả tài sản vốn thuộc cơ quan trung ương đã chuyển giao cho địa phương. • Bỏ điều kiện pháp lý thường bắt buộc (Điều 3 khoản 2): được khai thác cả cơ sở nhà, đất CHƯA có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và KHÔNG cần phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị khi khai thác. • Thời hạn cho thuê (Điều 6): tối đa 10 năm, được gia hạn KHÔNG giới hạn số lần nếu đáp ứng điều kiện tại NĐ 108/2024/NĐ-CP. Trên 10 năm phải chuyển sang cơ chế giao đất/cho thuê đất theo Luật Đất đai. • Cơ chế tài chính linh hoạt (Điều 10): đơn vị sự nghiệp công lập quản lý nhà có thể được áp dụng quy định quản lý tiền thu như doanh nghiệp, thay vì nộp toàn bộ vào ngân sách. Hiệu lực thi hành ngay từ ngày ký; các cơ chế đặc thù áp dụng trong 5 năm kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực (Điều 14).Nguồn: Nghị quyết 31/2026/NQ-CP

Có câu hỏi pháp lý muốn thấy ở đây? Cho chúng tôi biết.