91/2015/QH13Còn hiệu lực
Bộ luật · Ban hành 24.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2017
Đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ trước hạn thì phải bồi thường gì?
Công cụ đã dùng
get_documentTùy ai chấm dứt và có căn cứ hay không.
1) Bên thuê dịch vụ thấy làm tiếp không có lợi: được chấm dứt, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, trả tiền công cho phần việc bên cung ứng đã làm và bồi thường thiệt hại (khoản 1 Điều 520 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13).
2) Bên kia vi phạm nghiêm trọng, hoặc hợp đồng, pháp luật cho phép chấm dứt: không phải bồi thường (khoản 1 Điều 428). Bên cung ứng cũng được chấm dứt và đòi bồi thường nếu bên thuê vi phạm nghiêm trọng (khoản 2 Điều 520).
3) Chấm dứt không có căn cứ: bên chấm dứt bị coi là bên vi phạm hợp đồng và chịu trách nhiệm như vi phạm (khoản 5 Điều 428).
Các khoản có thể phải trả:
• Tiền cho phần việc đã thực hiện (khoản 3 Điều 428).
• Bồi thường thiệt hại, gồm cả lợi ích lẽ ra bên kia được hưởng từ hợp đồng và chi phí phát sinh không trùng lặp (Điều 360, khoản 2 Điều 419).
• Tiền phạt nếu hợp đồng có thỏa thuận. Với hợp đồng dân sự, nếu chỉ thỏa thuận phạt mà không ghi rõ vừa phạt vừa bồi thường thì chỉ chịu phạt (khoản 3 Điều 418). Với hợp đồng giữa thương nhân, mức phạt tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm (Điều 301 Luật Thương mại 36/2005/QH11) và bên bị vi phạm được đòi cả phạt lẫn bồi thường nếu đã thỏa thuận phạt (khoản 2 Điều 307).
Bên chấm dứt phải thông báo ngay cho bên kia; không thông báo mà gây thiệt hại thì bồi thường thêm (khoản 2 Điều 428).Nguồn: Điều 360, 418, 419, 428, 520 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13; Điều 301, 307 Luật Thương mại 36/2005/QH11