35/2006/NĐ-CPCòn hiệu lực
Nghị định · Ban hành 31.03.2006 · Hiệu lực 26.04.2006
Nhượng quyền thương mại có phải đăng ký với cơ quan nhà nước không?
Công cụ đã dùng
search_legal_docs
get_document
get_summaryChỉ nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam (kể cả từ khu chế xuất, khu phi thuế quan vào nội địa) mới phải đăng ký. Nhượng quyền trong nước và nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài không phải đăng ký, nhưng phải báo cáo Sở Công Thương (Điều 17a Nghị định 35/2006/NĐ-CP, bổ sung bởi Nghị định 120/2011/NĐ-CP).
Với trường hợp phải đăng ký:
1) Bên nhượng quyền đăng ký trước khi bắt đầu nhượng quyền (Điều 291 Luật Thương mại; Điều 17 Nghị định 35/2006/NĐ-CP). Theo Điều 18, nơi đăng ký là Bộ Công Thương. Nghị quyết 19/2026/NQ-CP đang phân cấp nhiều thủ tục của Bộ Công Thương về địa phương, nên kiểm tra nơi nộp trên Cổng dịch vụ công trước khi nộp.
2) Hồ sơ gồm đơn đề nghị, bản giới thiệu về nhượng quyền theo mẫu, giấy tờ về tư cách pháp lý và văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp nếu có chuyển giao; giấy tờ nước ngoài phải hợp pháp hóa lãnh sự (Điều 19). Cơ quan xử lý trong 05 ngày làm việc (Điều 20).
Với mọi bên nhượng quyền: hệ thống kinh doanh phải hoạt động đủ 01 năm (Điều 5, sửa đổi bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP) và phải gửi hợp đồng mẫu, bản giới thiệu cho bên nhận ít nhất 15 ngày làm việc trước khi ký (Điều 8).
Không đăng ký khi thuộc diện phải đăng ký bị phạt 5 đến 10 triệu đồng với cá nhân, 10 đến 20 triệu đồng với tổ chức (điểm a khoản 3 Điều 75, khoản 4 Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP).Nguồn: Điều 5, 8, 17, 17a, 18, 19, 20 Nghị định 35/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 120/2011/NĐ-CP, 08/2018/NĐ-CP); Điều 291 Luật Thương mại 36/2005/QH11; điểm a khoản 3 Điều 75 Nghị định 98/2020/NĐ-CP