45/2019/QH14Còn hiệu lực
Bộ luật · Ban hành 20.11.2019 · Hiệu lực 01.01.2021
Năm nay tôi còn 8 ngày phép chưa nghỉ, công ty nói hết 31/12 không nghỉ thì mất, không quy đổi thành tiền. Công ty làm vậy có đúng không? Tôi vào làm giữa năm thì tính phép thế nào? Và công ty năm nay báo không có thưởng Tết, có vi phạm luật không?
Ba câu trả lời ngắn: công ty được phép không quy đổi phép thành tiền khi bạn vẫn đang làm việc; phép của người vào giữa năm tính theo tỷ lệ tháng làm việc; và thưởng Tết không phải nghĩa vụ luật định.
1. Số ngày phép năm (Điều 113 khoản 1 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14)
Người làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng:
• 12 ngày làm việc với công việc trong điều kiện bình thường.
• 14 ngày làm việc với người chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
• 16 ngày làm việc với người làm nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Đây là ngày làm việc, không tính ngày nghỉ hằng tuần và ngày lễ.
Thâm niên: cứ đủ 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì được thêm 1 ngày phép (Điều 114). Làm 10 năm trong điều kiện bình thường thì có 14 ngày.
2. Vào làm giữa năm tính phép thế nào (Điều 113 khoản 2; Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP)
Công thức: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng số ngày tăng thêm theo thâm niên nếu có, chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm.
Tháng lẻ được tính tròn: nếu tổng số ngày làm việc và ngày nghỉ có hưởng lương trong tháng đó chiếm từ 50% số ngày làm việc bình thường của tháng trở lên, tháng đó tính là 1 tháng làm việc (Điều 66 khoản 2).
Ví dụ: vào làm ngày 10/6, điều kiện bình thường, đến 31/12 làm được 7 tháng (tháng 6 làm 15 ngày công trên khoảng 22 ngày, đạt trên 50% nên tính tròn 1 tháng). Số phép: 12 : 12 x 7 = 7 ngày.
Thời gian thử việc được tính vào thời gian làm việc để tính phép nếu bạn tiếp tục làm sau thử việc (Điều 65 khoản 2 Nghị định 145/2020). Điều 65 còn tính cả: thời gian học nghề, tập nghề nếu sau đó làm việc; nghỉ việc riêng có hưởng lương; nghỉ không hưởng lương được đồng ý, cộng dồn không quá 1 tháng/năm; nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cộng dồn không quá 6 tháng; nghỉ ốm đau cộng dồn không quá 2 tháng/năm; toàn bộ thời gian nghỉ thai sản; thời gian ngừng việc không do lỗi người lao động; thời gian bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó kết luận không vi phạm.
3. Phép chưa nghỉ hết: chỉ được trả tiền khi nghỉ việc
Điều 113 khoản 3 quy định đúng một trường hợp phải thanh toán: do thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày phép thì người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Bộ luật Lao động 2019 đã bỏ quy định cũ về việc trả tiền cho ngày phép chưa nghỉ khi vẫn đang làm việc. Vì vậy công ty không sai khi từ chối quy đổi 8 ngày phép của bạn thành tiền trong lúc bạn còn làm.
Nhưng công ty cũng không được phủi trách nhiệm sắp xếp phép. Điều 113 khoản 4: người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến người lao động và phải thông báo trước. Người lao động có thể thỏa thuận với công ty để nghỉ thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 3 năm một lần.
Việc dồn phép sang năm sau là hợp pháp nhưng phải có thỏa thuận, không mặc nhiên. Nếu công ty không bố trí được lịch nghỉ cho bạn, hãy đề nghị bằng văn bản việc gộp phép sang năm sau theo khoản 4, hoặc chốt lịch nghỉ cụ thể trước 31/12.
Mức tiền khi được thanh toán (Điều 67 Nghị định 145/2020):
• Ngày phép thực nghỉ: tiền lương theo hợp đồng tại thời điểm nghỉ (khoản 2).
• Ngày phép chưa nghỉ khi thôi việc, mất việc: tiền lương theo hợp đồng của tháng trước liền kề tháng thôi việc (khoản 3).
4. Ngày đi đường (Điều 113 khoản 6)
Khi nghỉ phép, nếu đi bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 2 ngày thì từ ngày thứ 3 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày phép, và chỉ tính cho 1 lần nghỉ trong năm. Tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường do hai bên thỏa thuận, không phải khoản bắt buộc (Điều 67 khoản 1 Nghị định 145/2020).
5. Nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương (Điều 115)
• Kết hôn: 3 ngày.
• Con đẻ, con nuôi kết hôn: 1 ngày.
• Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha mẹ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi chết: 3 ngày.
Nghỉ không hưởng lương 1 ngày khi ông bà nội ngoại, anh chị em ruột chết; cha hoặc mẹ kết hôn; anh chị em ruột kết hôn. Các trường hợp này chỉ cần thông báo, không cần công ty phê duyệt. Ngoài ra hai bên có thể thỏa thuận nghỉ không lương thêm.
6. Thưởng Tết không bắt buộc
Điều 104 định nghĩa thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động, căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Không có điều luật nào buộc doanh nghiệp thưởng Tết hay lương tháng 13. Nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có một trong ba căn cứ:
• Hợp đồng lao động ghi rõ khoản thưởng.
• Thỏa ước lao động tập thể có điều khoản thưởng.
• Quy chế thưởng đã công bố công khai và bạn đạt điều kiện trong quy chế đó.
Có một trong ba căn cứ trên mà công ty không trả thì đó là nợ lương, bạn đòi được. Kinh doanh thua lỗ và không có quy chế thưởng thì việc không thưởng Tết là hợp pháp.
7. Nghỉ hằng tuần và lễ Tết
Mỗi tuần được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục; trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động thì bình quân 1 tháng ít nhất 4 ngày. Ngày nghỉ hằng tuần do công ty sắp xếp nhưng phải ghi vào nội quy lao động. Ngày nghỉ hằng tuần trùng ngày lễ, Tết thì được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp (Điều 111). Nghỉ Tết Âm lịch là 5 ngày trong tổng số 11 ngày lễ, Tết hưởng nguyên lương (Điều 112).
8. Nếu công ty không cho nghỉ phép
Trao đổi với công đoàn cơ sở, gửi đơn đến hòa giải viên lao động, hoặc phản ánh tới cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh để thanh tra. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 1 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.Nguồn: Điều 104, 111, 112, 113, 114, 115, Bộ luật Lao động 45/2019/QH14; Điều 65, 66, 67, Nghị định 145/2020/NĐ-CP