23/2018/QH14Còn hiệu lực
Luật · Ban hành 12.06.2018 · Hiệu lực 01.07.2019
Ép đối tác phân phối không được bán hàng của đối thủ có vi phạm luật cạnh tranh không?
Công cụ đã dùng
get_laws
search_legal_docs
get_documentKhông mặc nhiên vi phạm. Điều khoản buộc nhà phân phối chỉ bán hàng của bạn là thỏa thuận giữa hai công đoạn khác nhau trong chuỗi phân phối, và chỉ bị cấm khi gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 11 khoản 9, 10 và Điều 12 khoản 4 Luật Cạnh tranh 23/2018/QH14).
Vùng an toàn: nếu thị phần của từng bên trên thị trường liên quan dưới 15%, thỏa thuận được coi là không gây tác động đáng kể (Điều 11 khoản 3 điểm b Nghị định 35/2020/NĐ-CP).
Rủi ro tăng mạnh khi bạn có thị phần từ 30% trở lên, tức có vị trí thống lĩnh (Điều 24 khoản 1). Khi đó, áp điều kiện hợp đồng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia hoặc mở rộng thị trường là hành vi lạm dụng bị cấm (Điều 27 khoản 1 điểm đ, e).
Mức phạt theo Nghị định 75/2019/NĐ-CP:
• Thỏa thuận giữa các công đoạn bị cấm: 1% đến 5% doanh thu trên thị trường liên quan năm liền trước của từng bên (Điều 7 khoản 1).
• Lạm dụng vị trí thống lĩnh: 1% đến 10% (Điều 8 khoản 1).
Kèm tịch thu lợi nhuận, buộc bỏ điều khoản vi phạm.
Riêng việc đe dọa, cưỡng ép nhà phân phối để họ ngừng giao dịch với đối thủ là cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45 khoản 2 Luật Cạnh tranh): phạt 100 đến 200 triệu đồng, 200 đến 300 triệu đồng nếu đó là đối tác lớn nhất của đối thủ (Điều 17 Nghị định 75/2019/NĐ-CP).Nguồn: Điều 11 khoản 9, 10, Điều 12 khoản 4, Điều 24, Điều 27, Điều 45 khoản 2 Luật Cạnh tranh 23/2018/QH14; Điều 11 khoản 3 Nghị định 35/2020/NĐ-CP; Điều 7, 8, 17 Nghị định 75/2019/NĐ-CP