52/2014/QH13Còn hiệu lực
Luật · Ban hành 19.06.2014 · Hiệu lực 01.01.2015
Cho em hỏi 1 vấn đề này với các anh chị. Đất được mua sau khi kết hôn (có giấy đăng ký kết hôn) nhưng người đứng tên là người vợ. Vậy nếu người chồng ký vào biên bản cắt 1 phần đất đó để làm lối đi chung trong cuộc họp có chủ tịch UBND xã, trung tá phó trưởng công an xã, chuyên viên phòng kinh tế xã, trưởng ban công tác mặt trận ấp, địa chính xã... cùng ký vào biên bản làm chứng về việc cắt lối đi chung đó. Sau đó thì biên bản này có giá trị pháp lý không ạ?
Đây là một tình huống pháp lý khá tinh tế, và câu trả lời phụ thuộc vào MỘT ĐIỂM MẤU CHỐT: việc cắt một phần đất để làm lối đi chung là hành vi ĐỊNH ĐOẠT bất động sản — mà theo luật, việc này BẮT BUỘC phải có sự thỏa thuận của CẢ HAI VỢ CHỒNG bằng văn bản, chứ không chỉ riêng chữ ký của người chồng (dù có nhiều cán bộ xã ký làm chứng).
Về bản chất tài sản: khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13 quy định rõ: "Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được SAU KHI KẾT HÔN là TÀI SẢN CHUNG của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng." Vì đất được MUA sau khi kết hôn (có giấy đăng ký kết hôn), đây là TÀI SẢN CHUNG của cả hai vợ chồng — bất kể trên sổ đỏ chỉ ghi tên người vợ. Việc chỉ ghi tên một người trên giấy chứng nhận KHÔNG làm thay đổi bản chất đây là tài sản chung.
Về việc ai có quyền định đoạt: đây là điểm quyết định. Khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Việc định đoạt tài sản chung phải có sự THỎA THUẬN BẰNG VĂN BẢN của vợ chồng trong những trường hợp sau đây: a) BẤT ĐỘNG SẢN..." Cắt một phần đất (bất động sản) để làm lối đi chung — dù là cho mục đích công cộng — vẫn là một hình thức định đoạt tài sản chung, nên VỀ NGUYÊN TẮC phải có sự thỏa thuận, đồng ý bằng văn bản của CẢ hai vợ chồng. Việc CHỈ có người chồng ký (trong khi người vợ — người đứng tên và là đồng sở hữu — không ký/không thể hiện sự đồng ý bằng văn bản) khiến biên bản này CÓ THỂ BỊ COI LÀ CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN về mặt định đoạt tài sản chung.
Về giá trị của việc có nhiều cán bộ xã ký làm chứng: điều này KHÔNG thay thế được yêu cầu về sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Chữ ký của chủ tịch UBND xã, công an xã, cán bộ địa chính... chỉ có giá trị XÁC NHẬN việc cuộc họp/biên bản đã diễn ra, chứng kiến các bên có mặt — chứ KHÔNG thay cho ý chí định đoạt tài sản của người đồng sở hữu (người vợ). Nói cách khác, biên bản có thể chứng minh "đã có một cuộc họp và người chồng đã ký," nhưng không chứng minh được "người vợ — đồng sở hữu — đã đồng ý cắt đất."
Về hệ quả pháp lý nếu người vợ không đồng ý: khoản 2 Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình quy định — trong trường hợp người có tên trên giấy chứng nhận tự mình (hoặc để người khác) xác lập giao dịch định đoạt tài sản chung TRÁI với quy định về đại diện giữa vợ chồng, thì giao dịch đó có thể VÔ HIỆU (trừ trường hợp bảo vệ người thứ ba ngay tình theo luật). Ở đây tình huống còn đặc biệt hơn: người KÝ (chồng) lại KHÔNG phải là người đứng tên trên sổ (vợ) — càng cho thấy biên bản thiếu sự tham gia định đoạt của chính người đồng sở hữu đứng tên. Do đó, nếu người vợ không đồng ý và có tranh chấp, biên bản cắt đất này hoàn toàn có thể bị xem xét lại về hiệu lực.
Một lưu ý cân bằng: nếu thực tế người vợ CÓ đồng ý (dù không ký vào biên bản), hoặc sau đó thể hiện sự đồng thuận rõ ràng (bằng lời nói trước nhiều người, bằng hành vi để lối đi được sử dụng ổn định lâu dài không phản đối...), thì tùy tình huống cụ thể tòa án vẫn có thể xem xét công nhận thỏa thuận trên thực tế. Vì vậy, kết luận cuối cùng phụ thuộc vào việc người vợ có thực sự đồng ý hay không, và điều này cần được làm rõ, tốt nhất là bằng văn bản.
Gia đình nên làm gì:
1) Nếu MỤC ĐÍCH là muốn việc cắt đất làm lối đi chung có giá trị pháp lý vững chắc: cần lập lại/bổ sung văn bản có CHỮ KÝ ĐỒNG Ý của CẢ hai vợ chồng (đặc biệt là người vợ đứng tên trên sổ), tốt nhất nên công chứng hoặc chứng thực để bảo đảm giá trị pháp lý, sau đó làm thủ tục điều chỉnh diện tích/tách thửa tại Văn phòng đăng ký đất đai.
2) Nếu người vợ KHÔNG đồng ý với việc cắt đất: người vợ (với tư cách đồng sở hữu) có quyền khẳng định biên bản chỉ có chữ ký của chồng là chưa đủ điều kiện định đoạt tài sản chung theo khoản 2 Điều 35, và có thể yêu cầu xem xét lại hiệu lực của biên bản đó nếu bị áp dụng để cắt đất.
3) Nếu đã phát sinh tranh chấp (các bên liên quan đến lối đi chung khẳng định biên bản có hiệu lực, còn vợ chồng không thống nhất): nên yêu cầu UBND cấp xã hòa giải, hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân khu vực để xác định rõ hiệu lực của biên bản và quyền định đoạt phần đất.
4) Nên tham vấn luật sư hoặc công chứng viên để được đánh giá cụ thể dựa trên nội dung chính xác của biên bản và ý chí thực tế của người vợ, tránh việc một văn bản thiếu chữ ký của đồng sở hữu gây rắc rối pháp lý kéo dài về sau.Nguồn: Điều 33, khoản 2 Điều 35, Điều 34, khoản 2 Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13