100/2015/QH13Còn hiệu lực
Bộ luật · Ban hành 27.11.2015 · Hiệu lực 01.01.2018
Tôi bị lừa chuyển khoản qua mạng (mua hàng ảo, giả danh, đầu tư online...). Kẻ lừa đảo phạm tội gì, tôi cần làm gì ngay để có cơ hội lấy lại tiền và tố giác đúng cách?
Lừa đảo chiếm đoạt tiền qua chuyển khoản là hành vi phạm tội hình sự. Việc cần làm NGAY là báo ngân hàng để khóa/tra soát dòng tiền và trình báo công an càng sớm càng tốt - thời gian là yếu tố quyết định khả năng thu hồi. Căn cứ pháp lý là Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung).
1) KẺ LỪA ĐẢO PHẠM TỘI GÌ
Tùy cách thức, hành vi có thể cấu thành một trong hai tội:
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (Điều 174 Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13): cấu thành khi "bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác". Đây là trường hợp điển hình khi bạn bị ĐÁNH LỪA để tự nguyện chuyển tiền (mua hàng không có thật, giả danh người quen/cơ quan, dụ đầu tư sinh lời ảo...). Yếu tố cốt lõi là "thủ đoạn gian dối".
TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (Điều 290 Bộ luật Hình sự): khoản 1 quy định người "sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này", trong đó có: "a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;…". Điều 290 là tội mang tính "dự phòng": áp dụng khi việc chiếm đoạt qua mạng KHÔNG thuộc tội trộm cắp hay lừa đảo - ví dụ chiếm quyền tài khoản, dùng trái phép thông tin thẻ để rút tiền (nạn nhân không hề bị lừa để tự chuyển).
Phân biệt ngắn gọn: nếu bạn bị GIAN DỐI để tự nguyện chuyển tiền → thường là tội lừa đảo (Điều 174); nếu kẻ gian dùng thông tin tài khoản/thẻ để tự lấy tiền mà bạn không hề đồng ý → thường là Điều 290. (Lưu ý: mức định lượng giá trị chiếm đoạt và mức hình phạt của Bộ luật Hình sự đã được điều chỉnh bởi luật sửa đổi năm 2025, nên bài viết không nêu con số cụ thể; việc định tội, định khung do cơ quan tố tụng xác định.)
2) VIỆC CẦN LÀM NGAY (thời gian rất quan trọng)
Đây là hướng dẫn thực tiễn để tăng khả năng thu hồi và phục vụ điều tra:
1) BÁO NGÂN HÀNG NGAY: gọi tổng đài ngân hàng của bạn (và nếu biết, ngân hàng nhận tiền) để báo giao dịch bị lừa đảo, yêu cầu tra soát, phong tỏa/khoanh giữ số tiền nếu còn trong tài khoản người nhận. Chuyển tiền vừa xong mà báo sớm thì cơ hội giữ được tiền cao hơn.
2) LƯU TOÀN BỘ CHỨNG CỨ: sao kê/biên lai chuyển khoản, số tài khoản và tên người nhận, tin nhắn/cuộc gọi/trang web/nội dung trao đổi với kẻ lừa đảo, số điện thoại, đường link. Chụp màn hình đầy đủ trước khi bị xóa.
3) TRÌNH BÁO CÔNG AN: làm đơn tố giác tội phạm gửi cơ quan công an nơi bạn cư trú (công an cấp xã/Cơ quan Cảnh sát điều tra) kèm toàn bộ chứng cứ; có thể phản ánh tới đường dây nóng/kênh tiếp nhận tin báo về tội phạm sử dụng công nghệ cao. Việc trình báo sớm giúp công an phối hợp ngân hàng truy vết dòng tiền.
4) CẢNH GIÁC LỪA ĐẢO LẦN HAI: sau khi bị lừa, có thể xuất hiện đối tượng mạo danh "hỗ trợ lấy lại tiền", "luật sư thu hồi" yêu cầu nộp phí - đây thường là bẫy lừa tiếp. Không chuyển thêm bất kỳ khoản nào cho các dịch vụ hứa "lấy lại tiền".
3) KHẢ NĂNG THU HỒI VÀ QUYỀN DÂN SỰ
Nếu bắt được đối tượng và xử lý hình sự, bạn là bị hại có quyền yêu cầu bồi thường, hoàn trả số tiền bị chiếm đoạt trong vụ án. Nếu chỉ xác định được người nhận tiền mà chưa đủ yếu tố hình sự, bạn vẫn có thể khởi kiện dân sự đòi lại khoản tiền đã chuyển nhầm/bị chiếm giữ không có căn cứ.
BẠN NÊN LÀM GÌ
1) Hành động trong "giờ vàng": báo ngân hàng và trình báo công an ngay khi phát hiện bị lừa.
2) Thu thập, sao lưu đầy đủ chứng cứ trước khi bị xóa.
3) Không nghe theo dịch vụ "lấy lại tiền" đòi phí - tránh bị lừa lần hai.
4) Theo dõi, phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra; giữ biên nhận đơn tố giác.
5) Nếu cần, tham vấn luật sư để làm đơn tố giác và yêu cầu bồi thường đúng thủ tục.Nguồn: Điều 174, Điều 290 Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật 12/2017/QH14 và Luật 86/2025/QH15)