52/2010/QH12Còn hiệu lực
Luật · Ban hành 17.06.2010 · Hiệu lực 01.01.2011
Vợ chồng tôi hiếm muộn, muốn nhận một bé 4 tuổi là con của người họ hàng làm con nuôi. Chúng tôi cần điều kiện gì, cha mẹ đẻ của bé phải đồng ý thế nào? Hồ sơ nộp ở đâu, mất bao lâu và bao nhiêu tiền? Sau khi nhận nuôi thì cha mẹ đẻ còn quyền gì với bé không, bé có được đổi họ theo chúng tôi không?
Luật Nuôi con nuôi 52/2010/QH12 vẫn là văn bản điều chỉnh, chưa bị sửa đổi. Hồ sơ nộp tại UBND cấp xã, giải quyết trong 30 ngày, lệ phí 400.000 đồng. Sau khi giao nhận, quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng của cha mẹ đẻ chấm dứt, trừ khi hai bên thỏa thuận khác.
1. Ai được nhận làm con nuôi (Điều 8)
• Trẻ em dưới 16 tuổi.
• Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, chỉ trong hai trường hợp: được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
• Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
Bé 4 tuổi trong trường hợp của bạn đủ điều kiện. Vì hai vợ chồng cùng nhận, cả hai phải cùng đứng tên là cha mẹ nuôi.
2. Điều kiện với người nhận con nuôi (Điều 14)
Phải có đủ bốn điều kiện: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt.
Bốn nhóm không được nhận con nuôi: đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Ngoại lệ quan trọng tại khoản 3: cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện hơn 20 tuổi và điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở. Ngoại lệ này chỉ dành cho quan hệ ruột thịt kể trên; họ hàng xa hơn vẫn phải đáp ứng đầy đủ.
Cấm tuyệt đối: ông, bà nhận cháu làm con nuôi, hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi (Điều 13 khoản 6). Điều 13 cũng cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, mua bán trẻ em; giả mạo giấy tờ; phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi; lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công, người dân tộc thiểu số để hưởng chính sách ưu đãi.
3. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ (Điều 21)
Việc nhận nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ. Nếu một người đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì cần sự đồng ý của người còn lại; cả hai đều như vậy thì cần sự đồng ý của người giám hộ. Trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên còn phải tự mình đồng ý; bé 4 tuổi của bạn chưa thuộc diện này.
Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã sinh ra ít nhất 15 ngày.
4. Hồ sơ
Của người nhận con nuôi (Điều 17): đơn xin nhận con nuôi; bản sao hộ chiếu, căn cước hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; phiếu lý lịch tư pháp; văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân; giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi thường trú cấp.
Hai điểm đã đơn giản hóa:
• Từ 01/07/2025, bạn không phải nộp phiếu lý lịch tư pháp; cơ quan giải quyết tự yêu cầu cơ quan quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin (Điều 11 khoản 2 Nghị định 120/2025/NĐ-CP). Giấy khám sức khỏe do bệnh viện đa khoa, phòng khám đa khoa hoặc trung tâm y tế khu vực cấp (khoản 3).
• Hồ sơ lập thành 1 bộ, nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến. Giấy khám sức khỏe và văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình có giá trị nếu được cấp chưa quá 6 tháng tính đến ngày nộp (Điều 1 khoản 2 và 4 Nghị định 06/2025/NĐ-CP sửa Nghị định 19/2011/NĐ-CP).
Của trẻ được giới thiệu làm con nuôi (Điều 18): giấy khai sinh; giấy khám sức khỏe; hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng, chụp không quá 6 tháng; và tùy trường hợp là biên bản xác nhận trẻ bị bỏ rơi, giấy chứng tử của cha mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố đã chết, hoặc quyết định tiếp nhận với trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ này khi trẻ sống tại gia đình.
5. Nộp ở đâu, bao lâu, bao nhiêu tiền
Nộp tại UBND cấp xã nơi trẻ thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú (Điều 19 khoản 1; Điều 9 khoản 1).
Thời hạn: giải quyết trong 30 ngày kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ (Điều 19 khoản 2). Trong đó, UBND cấp xã kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người phải đồng ý trong 10 ngày (Điều 20); sau khi có ý kiến đồng ý, đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi và tổ chức giao nhận trong 20 ngày; từ chối thì trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do trong 10 ngày (Điều 22). Nghị định 06/2025 quy định cụ thể việc đăng ký và giao nhận thực hiện trong 5 ngày làm việc kể từ khi kết thúc thời hạn thay đổi ý kiến, và bản điện tử Giấy chứng nhận được gửi qua kho dữ liệu điện tử cá nhân hoặc hộp thư điện tử.
Lệ phí: 400.000 đồng một trường hợp, thu tại UBND cấp xã (Điều 5 và Điều 6 Nghị định 114/2016/NĐ-CP). Miễn lệ phí cho cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu; người nhận trẻ khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo; người có công với cách mạng; và trường hợp đăng ký lại việc nuôi con nuôi (Điều 4).
6. Hệ quả pháp lý (Điều 24)
Kể từ ngày giao nhận con nuôi:
• Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng phát sinh quyền, nghĩa vụ với nhau. Con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi.
• Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải đồng ý với việc đổi họ tên; bé 4 tuổi thì cha mẹ nuôi quyết định.
• Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
• Cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý và định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi, trừ trường hợp cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác.
Vì bên kia là họ hàng, hai gia đình nên ghi rõ thỏa thuận về việc thăm nom, giữ liên hệ ngay từ đầu nếu muốn duy trì, vì mặc định luật cắt các quyền nêu trên.
Theo dõi sau nhận nuôi: 6 tháng một lần trong thời hạn 3 năm kể từ ngày giao nhận, cha mẹ nuôi thông báo cho UBND cấp xã nơi thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần và sự hòa nhập của con nuôi (Điều 23 khoản 1).
7. Chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 25, 26, 27)
Bốn căn cứ: con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt; con nuôi bị kết án về tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi, ngược đãi hành hạ cha mẹ nuôi hoặc phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; cha mẹ nuôi bị kết án về các tội tương ứng với con nuôi hoặc ngược đãi, hành hạ con nuôi; vi phạm các hành vi bị cấm tại Điều 13.
Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân. Người có quyền yêu cầu gồm cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi; cơ quan lao động, thương binh và xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu trong các căn cứ 2, 3, 4.
Hệ quả khi chấm dứt: quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực; con chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức khác chăm sóc và quyền của cha mẹ đẻ được khôi phục; con nuôi nhận lại tài sản riêng, được hưởng phần tương xứng nếu có công đóng góp vào tài sản chung, và có quyền lấy lại họ tên như trước khi được cho làm con nuôi.Nguồn: Điều 8, 9, 13, 14, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, Luật Nuôi con nuôi 52/2010/QH12; Điều 4, 5, 6, Nghị định 114/2016/NĐ-CP; Điều 1, Nghị định 06/2025/NĐ-CP; Điều 9, 11, Nghị định 120/2025/NĐ-CP