84/2015/QH13Hết hiệu lực một phần
Luật · Ban hành 25.06.2015 · Hiệu lực 01.07.2016
Xin hỏi luật sư, khi doanh nghiệp mua bảo hiểm ngoài công trường cho người lao động, khi người lao động gặp tai nạn lao động và tử vong thì số tiền đó doanh nghiệp có phải trả cho người lao động không, mỗi mạng là 100 triệu đồng thì bảo hiểm đó gọi là bảo hiểm gì?
Có — và đây là điểm rất quan trọng cần hiểu đúng: khoản bảo hiểm 100 triệu đồng "ngoài công trường" mà doanh nghiệp mua là một loại bảo hiểm THƯƠNG MẠI TỰ NGUYỆN, HOÀN TOÀN TÁCH BIỆT với trách nhiệm bồi thường/trợ cấp BẮT BUỘC theo luật lao động của doanh nghiệp — việc đã mua bảo hiểm này KHÔNG thay thế và KHÔNG làm giảm nghĩa vụ pháp lý riêng của doanh nghiệp đối với gia đình người lao động tử vong.
Về tên gọi loại bảo hiểm: "bảo hiểm ngoài công trường" theo cách gọi trong ngành xây dựng thường là BẢO HIỂM TAI NẠN CON NGƯỜI (hoặc bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện/thương mại) do doanh nghiệp chủ động mua thêm từ một công ty bảo hiểm thương mại (ví dụ Bảo Việt, PVI, PTI...) cho người lao động của mình, khác hoàn toàn với BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC về tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (quỹ TNLĐ-BNN do Nhà nước quản lý, mà mọi doanh nghiệp có sử dụng lao động theo hợp đồng đều bắt buộc phải đóng theo Luật Bảo hiểm xã hội). Khoản tiền 100 triệu đồng/người là mức chi trả cụ thể theo hợp đồng bảo hiểm thương mại mà doanh nghiệp đã ký kết — mức này hoàn toàn do thỏa thuận giữa doanh nghiệp và công ty bảo hiểm, không phải mức pháp luật ấn định.
Về nghĩa vụ RIÊNG, BẮT BUỘC của doanh nghiệp (người sử dụng lao động) khi có người lao động tử vong do tai nạn lao động: Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015/QH13 quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động, trong đó khoản 4 điểm b quy định mức bồi thường: "Ít nhất 30 THÁNG TIỀN LƯƠNG cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên HOẶC CHO THÂN NHÂN NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẾT DO TAI NẠN LAO ĐỘNG, bệnh nghề nghiệp" — áp dụng khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của chính người lao động. Đây là NGHĨA VỤ BỒI THƯỜNG RIÊNG CỦA DOANH NGHIỆP, phát sinh trực tiếp từ luật, không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có mua bảo hiểm thương mại hay không, và KHÔNG được coi là đã hoàn thành chỉ vì công ty bảo hiểm đã chi trả 100 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm riêng.
Ngoài khoản bồi thường 30 tháng lương này, người sử dụng lao động còn có các trách nhiệm khác theo Điều 38: thanh toán toàn bộ chi phí y tế phát sinh (nếu có, trước khi tử vong), và lập hồ sơ để thân nhân người lao động được hưởng chế độ tử tuất từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp BẮT BUỘC (nếu doanh nghiệp đã đóng BHXH bắt buộc cho người lao động — đây là khoản riêng thứ ba, từ quỹ nhà nước, khác cả với bảo hiểm thương mại 100 triệu và khoản bồi thường 30 tháng lương của doanh nghiệp).
Như vậy, về tổng thể, gia đình người lao động tử vong do tai nạn lao động (không hoàn toàn do lỗi của người lao động) có thể được hưởng ĐỒNG THỜI, ĐỘC LẬP với nhau: (1) 100 triệu đồng từ bảo hiểm thương mại "ngoài công trường" mà doanh nghiệp đã mua; (2) ít nhất 30 tháng tiền lương do chính doanh nghiệp bồi thường trực tiếp theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động; (3) chế độ tử tuất từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN bắt buộc (nếu có tham gia BHXH bắt buộc). Doanh nghiệp không được viện dẫn việc "đã mua bảo hiểm 100 triệu" để từ chối thực hiện khoản (2).
Một lưu ý cần xác minh thêm: Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015/QH13 hiện có tình trạng "hết hiệu lực một phần" (một số điều khoản đã được các luật lao động, BHXH ban hành sau này điều chỉnh) — cần xác minh trực tiếp Điều 38 có còn nguyên hiệu lực hay đã được sửa đổi bởi văn bản nào khác tại thời điểm áp dụng cụ thể, vì mức bồi thường hoặc thủ tục có thể đã được cập nhật.
Gia đình/người lao động nên làm gì:
1) Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ điều tra tai nạn lao động (biên bản điều tra, kết luận về lỗi/nguyên nhân tai nạn) — đây là căn cứ xác định mức trách nhiệm của doanh nghiệp theo Điều 38 (bồi thường nếu tai nạn không hoàn toàn do lỗi người lao động, hoặc trợ cấp mức thấp hơn nếu có lỗi của người lao động).
2) Đồng thời và độc lập, hoàn tất thủ tục nhận khoản chi trả 100 triệu đồng từ công ty bảo hiểm thương mại theo đúng hợp đồng bảo hiểm đã ký (thường cần giấy chứng tử, biên bản điều tra tai nạn, hồ sơ theo yêu cầu riêng của công ty bảo hiểm).
3) Nếu doanh nghiệp có tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động, yêu cầu doanh nghiệp lập hồ sơ đề nghị hưởng chế độ tử tuất do tai nạn lao động từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN.
4) Nếu doanh nghiệp từ chối hoặc chỉ đồng ý chi trả khoản bảo hiểm thương mại mà không thực hiện nghĩa vụ bồi thường riêng theo Điều 38, gia đình nên khiếu nại đến Sở/Phòng phụ trách lao động địa phương hoặc tham vấn luật sư để yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, tách bạch cả ba khoản nêu trên, không để doanh nghiệp gộp lẫn hoặc coi khoản bảo hiểm thương mại là đã đủ.Nguồn: Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015/QH13