- Số ký hiệu
- 111/2007/NQ-HĐND
- Loại văn bản
- Nghị quyết
- Ngày ban hành
- 16/07/2007
- Cơ quan ban hành
- HĐND tỉnh Phú Thọ
Tóm tắt
NGHỊ QUYẾT Về Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ KHÓA XVI, KỲ HỌP THỨ MƯỜI MỘT Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP; Sau khi xem xét Tờ trình số 1319/TTr-UBND ngày 19 tháng 6 năm 2007 của ủy ban nhân dân tỉnh về việc đề nghị phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách và thảo luận, QUYẾT NGHỊ: Điều 1. Tán thành thông qua Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến 2020. Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số nội dung sau: I - Đánh giá kết quả phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2005 Những năm qua, ngành nghề nông thôn Phú Thọ phát triển khá và đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn. Từ năm 2001 đến năm 2005, giá trị sản xuất (giá thực tế) tăng từ 1.219 tỷ đồng lên 2.316,7 tỷ đồng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 17,4%/năm. Một số sản phẩm ngành nghề có tốc độ tăng trưởng cao như: Chế biến nông sản, thực phẩm; sản xuất vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản, tận thu chế biến phế liệu, phế thải, mở rộng dịch vụ công nghiệp; sản xuất hàng mộc gia dụng và mỹ nghệ. Đã tạo thêm việc làm cho khoảng 15 ngàn lao động và tăng thu nhập cho nhiều hộ gia đình. Ngành nghề nông thôn phát triển đã tạo ra điều kiện để khai thác tốt hơn tài nguyên và lao động, nâng cao giá trị các sản phẩm nông, lâm - thủy sản thông qua chế biến. Các hoạt động ngành nghề nông thôn góp phần phát triển sản xuất, dịch vụ - thương mại và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại, hạn chế: Hình thức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình; thiết bị thô sơ, công nghệ thấp; phần lớn lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu trưởng thành từ truyền nghề; sản phẩm còn thiên về số lượng, chưa coi trọng chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng còn đơn điệu, sức cạnh tranh chưa cao. Công tác phát triển và nhân cấy nghề mới chưa nhiều, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất nguyên liệu với cơ sở sản xuất, chế biến ngành nghề và chưa có sự liên doanh giữa doanh nghiệp thương mại dịch vụ, du lịch với cơ sở sản xuất ngành nghề, làng nghề.
Đăng nhập để đọc toàn văn 2 Điều
Tài khoản miễn phí, không giới hạn số văn bản được đọc.
Nguồn: cơ sở dữ liệu Lawgical (150.000+ văn bản) · mã văn bản 49814 · nhập ngày 21/9/2026. Nội dung mang tính tham khảo — đối chiếu bản chính thức tại cổng thông tin của cơ quan ban hành khi cần văn bản có giá trị pháp lý.
Lawgical MCP
Miễn phí, dùng được ngay trong AI của bạn
Thay vì tra trên web, nối Lawgical vào Claude, ChatGPT hoặc Gemini. Hỏi bằng tiếng Việt, nhận câu trả lời trích dẫn đúng Điều — Khoản, đọc thẳng từ 150.000+ văn bản gốc thay vì bản tóm tắt của bên thứ ba. Hỏi thẳng về 111/2007/NQ-HĐND và nhận nguyên văn điều khoản bạn cần.
https://legal.lawgical.vn/mcpVăn bản được dẫn chiếu
Các văn bản mà văn bản này viện dẫn, và Lawgical có toàn văn.
- 116/2006/TT-BNNThông tư Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thônHết hiệu lực một phần
- 66/2006/NĐ-CPNghị định Về phát triển ngành nghề nông thônHết hiệu lực toàn bộ
- 113/2006/TT-BTCThông tư Hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triể ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006Còn hiệu lực