- Số ký hiệu
- 6/TT-LB
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Ngày ban hành
- 24/03/1989
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
Tóm tắt
THÔNG TƯ LIÊN BỘ TÀI CHÍNH - BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI - TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 324/CT ngày 29/12/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chế độ trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức Thi hành Chỉ thị số 324/CT ngày 29/12/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chế độ trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức; Liên Bộ Lao động - Thương binh và xã hội - Tài chính - Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn thực hiện như sau: I- Trợ cấp khó khăn thường xuyên hàng tháng cho công nhân, viên chức có đông người thực sự phải nuôi dưỡng, đời sống gặp nhiều khó khăn 1. Đối tượng được xét trợ cấp là những công nhân viên chức; những người hưởng lương trong các lực lượng vũ trang; những người làm hợp đồng dài hạn hưởng lương và các chế độ như công nhân viên chức cùng ngành nghề; những người hưởng lương hưu, những người nghỉ việc và mất sức lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hạng I, II; thương binh hạng I, II; bệnh binh hạng I, II; đang được hưởng trợ cấp hàng tháng, có đông người thực sự phải nuôi dưỡng mà đời sống đang gặp nhiều khó khăn. Những người thực sự phải nuôi dưỡng, bao gồm: a) Bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố dượng, mẹ kế trực tiếp phải nuôi dưỡng (phải cùng hộ khẩu) của vợ hoặc chồng, đã hết tuổi lao động, không có con nào khác để nương tựa, không có lương hưu hoặc trợ cấp. b) Con: gồm con đẻ, con ngoài giá thú, con nuôi (phải cùng hộ khẩu) chưa đến tuổi lao động hoặc đã đến tuổi lao động nhưng bị tàn tật nặng, bố mẹ phải nuôi dưỡng hoàn toàn. 2. Điều kiện và mức trợ cấp: Tất cả các đối tượng được xét trợ cấp nói trên, nếu có đông người phải nuôi dưỡng mà gia đình sống bằng tiền lương hoặc trợ cấp của Nhà nước, không có nguồn thu nhập nào khác, đời sống hằng ngày gặp rất nhiều khó khăn thì được trợ cấp từ người thực sự phải nuôi dưỡng thứ 3 trở đi và không quá hai suất trợ cấp trong một tháng. Những trường hợp sau đây được trợ cấp từ người thực sự phải nuôi dưỡng thứ hai trở đi và cũng trợ cấp không quá hai suất/tháng. - Công nhân, viên chức, người về hưu, tai nạn lao động, hoặc bệnh nghề nghiệp hạng I, người nghỉ việc vì mất sức lao động từ 81% trở lên hoặc đã quá tuổi lao động mà goá vợ (hoặc chồng) hoặc đã ly hôn, không có nguồn thu nhập thêm. - Cả hai vợ chồng đều là công nhân viên chức hoặc đã về hưu mà một trong hai người bị tàn tật, mất sức lao động từ 81% trở lên. - Một người là công nhân viên chức, còn một người đang trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự. - Cả hai vợ chồng đều là thương binh hạng II hoặc một người là thương, bệnh binh hạng I và một người là công nhân, viên chức.
Đăng nhập để đọc toàn văn
Tài khoản miễn phí, không giới hạn số văn bản được đọc.
Nguồn: cơ sở dữ liệu Lawgical (150.000+ văn bản) · mã văn bản 2271 · nhập ngày 21/9/2026. Nội dung mang tính tham khảo — đối chiếu bản chính thức tại cổng thông tin của cơ quan ban hành khi cần văn bản có giá trị pháp lý.
Lawgical MCP
Miễn phí, dùng được ngay trong AI của bạn
Thay vì tra trên web, nối Lawgical vào Claude, ChatGPT hoặc Gemini. Hỏi bằng tiếng Việt, nhận câu trả lời trích dẫn đúng Điều — Khoản, đọc thẳng từ 150.000+ văn bản gốc thay vì bản tóm tắt của bên thứ ba. Hỏi thẳng về 6/TT-LB và nhận nguyên văn điều khoản bạn cần.
https://legal.lawgical.vn/mcpVăn bản liên quan
Thông tư liên tịch khác do Bộ Tài chính ban hành.
- 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTTThông tư liên tịch Hướng dẫn cơ chế, nguyên tắc kiểm soát giá và phương pháp xác định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chungCòn hiệu lực
- 88-TTLBThông tư liên tịch Hướng dẫn việc thu và sử dụng phí phục vụ trong ngành du lịchCòn hiệu lực
- 01/NHNN-TCThông tư liên tịch Thông tư hướng dẫn việc phát hành tín phiếu kho bạc qua Ngân hàng Nhà nướcHết hiệu lực toàn bộ
- 17/TT-LBThông tư liên tịch Quy định chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí kiểm nghiệm mẫu thuốc, nguyên liệu làm thuốc, trang thiết bị y tếHết hiệu lực toàn bộ
- 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTCThông tư liên tịch Hướng dẫn việc trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quổc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuếCòn hiệu lực