- Số ký hiệu
- 55/2000/CT-UB
- Loại văn bản
- Chỉ thị
- Ngày ban hành
- 05/09/2000
- Cơ quan ban hành
- UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tóm tắt
CHỈ THỊ CỦA UBND TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc tá trong giai đoạn 2000-2001 Thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại bệnh nguy hiểm đối với con người. Theo số liệu điều tra năm 1997, ở Việt Nam tỷ lệ nam giới hút thuốc lá là 50%, nữ giới là 3,4%; ước tính 10% dân số hiện nay (khoảng trên 7 triệu người) sẽ chết do các bệnh có liên quan đến thuốc lá. Theo dự báo của Tổ chức y tế thế giới, đến năm 2020, số người chết vì hút thuốc lá sẽ nhiều hơn số người chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường bộ và gây tổn thất lớn về kinh tế đến từng gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 về "Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá" trong giai đoạn 2000-2010. Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện một số nhiệm vụ như sau: 1- Giao cho Ban chỉ đạo vận động không hút thuốc lá tỉnh (Sở Y tế là thường trực theo Quyết định số 541/QĐ.UBT ngày 14/9/1996 của UBND tỉnh) có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch vận động trong nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn 2000-2010 và chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, đoàn thể; ngành y tế cần tập trung một số nhiệm vụ chủ yếu như sau: - Sở Y tế là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm vận động y, bác sĩ và công chức viên chức không được hút thuốc lá trong phòng cấp cứu, hồi sức và các khoa phòng khác, các cơ sở y tế. - Sở Y tế chịu trách nhiệm tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng: Đài PTTH, Báo BR-VT để mọi người và người nhà bệnh nhân tiếp cận được những thông tin cần thiết về tác hại của thuốc lá cũng như ảnh hưởng của khói thuốc lá đến sức khỏe của con người và các phương pháp cai nghiện thuốc lá. 2. Các cơ quan thông tin đại chúng: Đài phát thanh-truyền hình, Báo BR-VT, ngành văn hóa-thông tin, Sở Thương mại có kế hoạch và quản lý chặt chẽ quảng cáo, các hình thức khuyến mại thuốc lá, các hình thức tài trợ như sau: - Cấm quảng cáo thuốc lá dưới các hình thức, kể cả việc sử dụng tên, nhãn hiệu và các biểu tượng của các sản phẩm thuốc lá với các sản phẩm và các dịch vụ không liên quan đến thuốc lá. - Nghiêm cấm tổ chức tiếp thị, kể cả việc sử dụng hệ thống tiếp viên để chào hàng, in nhãn, mác quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển. - Thực hiện nghiêm pháp luật về thương mại, trong đó quy định cấm khuyến mại bằng thuốc lá và các hình thức tương tự đối với trẻ em dưới 16 tuổi. - Cấm các tổ chức, mọi tổ chức nhận tài trợ để tổ chức các hoạt động như: văn hóa, nghệ thuật, thể thao có gắn với việc quảng cáo thuốc lá. - Khuyến khích, vận động nhân dân không hút thuốc lá trong các lễ hội, cuộc vui gia đình, đám cưới, đám tang ... - Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Bà Rịa - Vũng Tàu và ngành văn hóa thông tin phối hợp với Thường trực Ban chỉ đạo (Sở Y tế) thông tin để cho mọi nhà, mọi người am hiểu về tác hại của việc hút thuốc lá.
Đăng nhập để đọc toàn văn
Tài khoản miễn phí, không giới hạn số văn bản được đọc.
Nguồn: cơ sở dữ liệu Lawgical (150.000+ văn bản) · mã văn bản 116580 · nhập ngày 21/9/2026. Nội dung mang tính tham khảo — đối chiếu bản chính thức tại cổng thông tin của cơ quan ban hành khi cần văn bản có giá trị pháp lý.
Lawgical MCP
Miễn phí, dùng được ngay trong AI của bạn
Thay vì tra trên web, nối Lawgical vào Claude, ChatGPT hoặc Gemini. Hỏi bằng tiếng Việt, nhận câu trả lời trích dẫn đúng Điều — Khoản, đọc thẳng từ 150.000+ văn bản gốc thay vì bản tóm tắt của bên thứ ba. Hỏi thẳng về 55/2000/CT-UB và nhận nguyên văn điều khoản bạn cần.
https://legal.lawgical.vn/mcpVăn bản được dẫn chiếu
Các văn bản mà văn bản này viện dẫn, và Lawgical có toàn văn.
- 12/2000/NQ-CPNghị quyết Về "Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá" trong giai đoạn 2000 - 2010Hết hiệu lực toàn bộ
- 10/1999/NĐ-CPNghị định Về việc bổ sung Nghị định số 195/CP, ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơiHết hiệu lực toàn bộ